BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
BAN CÁN SỰ ĐẢNG
BỘ NÔNG NGHIỆP - PTNT |
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
|
× |
|
Số 136 BC/BCS |
|
|
|
|
BÁO CÁO Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Thực hiện Kết luận số 08-KL/TW của Ban Bí thư về tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Công văn số 2253-CV/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng về tổng kết Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thể, Ban Cán sự Đảng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương; thực trạng kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn, những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân, các biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể trong thời gian tới.
I – TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG
1. Kết quả triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đã xác định trong Nghị quyết
1.1 Vai trò của cấp uỷ đảng các cấp trong lãnh đạo thực hiện Nghị quyết
a. Triển khai ở Bộ Nông nghiệp và PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức phổ biến Nghị quyết của Trung ương về kinh tế tập thể cho toàn thể cán bộ, đảng viên các đơn vị trực thuộc Bộ. Để triển khai thực hiện Nghị quyết, các đơn vị của Bộ đã tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, cụ thể:
- Tham gia xây dựng các chính sách: Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng dự án Luật Hợp tác xã năm 2003; Nghị định của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Hợp tác xã năm 2003 và Nghị định về các chính sách hỗ trợ đối với HTX; ban hành Thông tư Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT - Bộ Nội vụ về hướng dẫn tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước ngành nông nghiệp từ tỉnh đến huyện; tham gia với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn hoạt động tín dụng nội bộ trong Hợp tác xã; Chủ trì và cùng các Bộ, Ngành liên quan xây dựng dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác.
Sau khi có Luật Hợp tác xã năm 2003, Các Bộ, Ngành cũng phối hợp soạn thảo hoặc ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo có liên quan trực tiếp đến các HTX nông nghiệp. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT đến nay có trên 50 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khu vực các HTX nông nghiệp do các cơ quan Nhà nước cấp trung ương ban hành hiện còn hiệu lực.
- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp trong khung khổ các chương trình, dự án khuyến nông, khuyến công và phát triển ngành nghề nông thôn; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; cứng hoá kênh mương; đào tạo tập huấn cán bộ.
- Thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo với các Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để quán triệt Nghị quyết Trung ương và các hoạt động liên quan; tổ chức đánh giá kinh tế tập thể sau 1 năm, 3 năm thực hiện Nghị quyết. Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức Diễn đàn để nghe và bàn các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các HTX nông nghiệp, 200 HTX tiêu biểu của cả nước tham gia Diễn đàn này. Ban Cán sự Đảng Bộ đã có văn bản báo cáo các ý kiến phản ánh của các HTX tại Diễn đàn lên Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ. Bộ cũng đã có Công văn số 2440/CV đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo các cơ quan của địa phương tháo gỡ các khó khăn của các HTX nông nghiệp hiện nay.
- Củng cố và tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước đối với kinh tế hợp tác: hiện nay trong hệ thống ngành đã có 61 Chi cục hợp tác xã và phát triển nông thôn hoặc Chi cục Phát triển nông thôn. Bộ cũng tăng cường các hoạt động đào tạo, tập huấn liên quan đến phát triển HTX ở các Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và Phát triển nông thôn I, II của Bộ.
b. Triển khai ở địa phương
- Các địa phương đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết về kinh tế tập thể tới cán bộ, đảng viên và tuyên truyền rộng rãi tới người dân. Tỉnh uỷ đã ra Nghị quyết hoặc Chương trình hành động của tỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết Trung ương. UBND tỉnh, thành phố đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ hoặc đề án tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Nhiều tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể của tỉnh do một đồng chí Lãnh đạo UBND tỉnh là Trưởng ban có sự tham gia của tất cả các sở, ngành liên quan. Tổng hợp báo cáo của 45 tỉnh, thành phố có 43 tỉnh đã ra các văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ (37 tỉnh ra Nghị quyết, 22 tỉnh có Chỉ thị và 41 tỉnh ra Thông báo hoặc văn bản chỉ đạo khác); 44 tỉnh có văn bản của UBND tỉnh (33 tỉnh có Quyết định, 14 tỉnh ra Chỉ thị, 38 tỉnh có Kế hoạch, 31 tỉnh có các văn bản chỉ đạo, triển khai khác). Tỉnh Đồng Nai còn thành lập Ban chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế tập thể ở cả 11/11 huyện, thị xã của tỉnh.
Đối với khu vực kinh tế tập thể trong nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 5, Nghị quyết của Tỉnh uỷ, Chương trình hành động của UBND tỉnh về phát triển kinh tế tập thể cho cán bộ, đảng viên trong ngành; đồng thời, tổ chức các lớp tập huấn, quán triệt những nội dung chủ yếu của Nghị quyết và phương hướng phát triển kinh tế tập thể cho đội ngũ cán bộ chủ chốt Hợp tác xã. Tổng hợp báo cáo của 45 tỉnh, thành phố tất cả các tỉnh đều có các văn bản của Sở Nông nghiệp và PTNT liên quan đến các hoạt động hỗ trợ, chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp của tỉnh trong đó 42 tỉnh có các văn bản hướng dẫn cho các HTX.
Kết quả việc thể chế và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương thời gian qua bước đầu đã tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn, song công tác tuyên truyền quán triệt Nghị quyết ở các cấp, các ngành mới tập trung thời gian đầu, chưa duy trì thường xuyên và chưa mở rộng đến các đối tượng như: nông dân, xã viên, chủ trang trại...Công tác tuyên truyền chưa gắn với thực hiện cụ thể nên đạt hiệu quả chưa cao.
Theo nhận định của các đoàn khảo sát tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về phát triển kinh tế tập thể cho thấy hiệu quả của việc thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của các địa phương rất hạn chế. Chương trình hành động và các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị quyết của các địa phương thường không sát với thực tiễn, chưa đi vào cuộc sống. Các tỉnh đều ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn (tỉnh Thái Bình có 12 nghị quyết, quyết định, báo cáo, đề án của các cấp liên quan đến đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể) nhưng thiếu chỉ đạo triển khai, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện nên kết quả thực hiện Nghị quyết chưa đạt yêu cầu đề ra.
Báo cáo của Đoàn khảo sát còn phản ảnh thực trạng hoạt động kém hiệu quả của các Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể của các địa phương. Ở nhiều nơi hoạt động của các ban này còn mang tính hình thức, chưa phân công rõ trách nhiệm của các thành viên, hoạt động không thường xuyên và hiệu quả hoạt động không cao. Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết tuy có thực hiện theo chỉ đạo của Trung ương nhưng còn khuôn mẫu, sơ sài, không chỉ ra được những tồn tại yếu kém, những vấn đề cần quan tâm giải quyết. Sau sơ kết không có kế hoạch cụ thể để khắc phục các tồn tại, vướng mắc, chưa có những giải pháp quyết liệt tháo gỡ khó khăn cho kinh tế tập thể phát triển. Thực hiên Kết luận 08-KL/TW ngày 14-12-2006 của Ban Bí thư, các tỉnh đã giao cho các ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổng kết và viết báo cáo tổng kết tuy nhiên các báo cáo thường nặng về nêu thành tích, chưa chỉ ra được những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong việc thực hiện Nghị quyết ở địa phương.
- Công tác xây dựng tổ chức Đảng trong HTX, nhìn chung chưa được thực hiện, một phần do số đảng viên trong các HTX ít, đảng viên là xã viên thường sinh hoạt với các chi bộ thôn.
1.2 Về nhận thức
Các tỉnh đều đánh giá có sự chuyển biến về nhận thức trong hệ thống chính trị và nhân dân về vai trò, vị trí của kinh tế tập thể và quan điểm, phát triển kinh tế của Đảng, song cũng đều thừa nhận còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa tin vào mô hình HTX kiểu mới theo Luật HTX, chưa nhận thức rõ và phân biệt HTX kiểu mới với HTX cũ trước đây. Qua khảo sát ở một số HTX, tổ hợp tác cũng cho thấy, đối với HTX chuyển đổi, chính quyền cấp xã còn can thiệp rất sâu vào công việc nội bộ của HTX, cấp Uỷ đảng, Chính quyền cấp xã đã trực tiếp tham gia điều hành HTX, quy định trả công cho Chủ nhiệm HTX thấp hơn lương Chủ tịch xã... coi HTX như là một cơ quan của xã, nên đã làm mất đi tính tự chủ của HTX.
ở nhi?u t?nh nông dân còn hoài nghi về mô hình HTX kiểu mới, sợ rơi vào tình trạng thất bại, lúng túng trong tổ chức bộ máy quản lý, nên nhiều tổ hợp tác hoạt động có qui mô lớn có đến vài trăm tổ viên và doanh thu hàng tỷ đồng/năm nhưng không muốn chuyển thành HTX. Ví dụ, tổ hợp tác sản xuất giống lúa, Bình Lức, xã Bình Lãng, huyện Tân Chủ, Long An, có 46 hộ sản xuất giống lúa, diện tích sản xuất trên 100 ha, các tổ viên đều góp vốn, doanh số hoạt động của tổ năm 2006 trên 2 tỷ đồng, tổ cũng trích lập các quỹ... song không muốn lên HTX vì không có cán bộ, tuy vậy, nguyên nhân thực sự là do Luật HTX quy định tổ chức bộ máy cồng kềnh, HTX phải nộp thuế.
Nhìn chung về tư tưởng, nhận thức vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thực sự tin vào việc khắc phục tình trạng yếu kém của hợp tác xã; còn mặc cảm hợp tác xã kiểu cũ, chưa nhận thức được mô hình hợp tác xã mới cũng như bước đi, cách làm mới để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể, hợp tác xã.
1.3 Kết quả thể chế hoá và thực hiện các chính sách nêu trong Nghị quyết ở các địa phương
Trên cơ sở sửa đổi, bổ sung Luật Hợp tác xã năm 2003 và theo hướng dẫn của các Bộ, Ngành, một số tỉnh, thành phố đã ban hành các cơ chế chính sách hỗ trợ thiết thực cho các HTX trong tỉnh, cụ thể như:
- Về giao đất không thu tiền: UBND tỉnh Bình Thuận có Chỉ thị số 03/2004/CT-UBBT ngày 23/3/2004 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức kinh tế tập thể. Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh tổ chức hướng dẫn cho các HTX trình tự, thủ tục lập hồ sơ và tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh Khánh Hoà, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn cho các HTX nông nghiệp làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất xây dựng cơ bản (đến nay 35 HTX trong tổng số 70 HTX nông-diêm nghiệp của tỉnh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh có Quyết định số 1328/QĐ-CT-UBT ngày 8/5/2003 có quy định UBND huyện được quyền quyết định việc giao đất không thu tiền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm văn phòng và cơ sở sản xuất kinh doanh cho HTX nông nghiệp. Đến nay có 26 HTX nông nghiệp trong tỉnh đã được giao đất hoặc cho mượn đất làm văn phòng làm việc và đất sản xuất kinh doanh.
Tỉnh An Giang, UBND tỉnh có Công văn số 658/UBND-KT ngày 5/3/2007 giao UBND các huyện, thị rà soát quỹ đất chưa sử dụng tại địa phương để giao cho HTX nông nghiệp xây dựng trụ sở, nhà kho, sân phơi, cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ cho sản xuất của xã viên. Nếu địa phương không có đủ quỹ đất theo nhu cầu của các HTX nông nghiệp, Chủ tịch UBND huyện, thị chỉ đạo các Ban quản lý dự án xây dựng cấp huyện sắp xếp bố trí 1-2 nền nhà trong khu dân cư giao cho các HTX theo giá bán nền cơ bản. Đất giao cho HTX nông nghiệp xây dựng trụ sở, nhà kho, sân phơi, cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ cho sản xuất của xã viên không thu tiền sử dụng đất.
Tuy nhiên số tỉnh quan tâm tạo điều kiện thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp theo quy định của Nghị định 181 và Nghị định 88 còn rất ít. Đến nay cả nước mới chỉ có 9% số HTX được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Số diện tích đất được cấp giấy chứng nhận so với đất thực tế HTX đang quản lý sử dụng càng thấp hơn.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX, THT:
Tổng hợp báo cáo của 48 tỉnh và thành phố năm 2006 trong số 26.240 cán bộ quản lý HTX, số cán bộ được đào tạo, tập huấn là 13.325 người (51%). Có 1.212 người được đào tạo từ trung cấp trở lên. Tổng kinh phí nhà nước hỗ trợ các hoạt động đào tạo tập huấn cán bộ HTX nông nghiệp năm 2006 là 3,8 tỷ đồng. Dù kinh phí bố trí còn hạn hẹp nhưng một số tỉnh cũng đã cố gắng bố trí kinh phí cho Sở Nông nghiệp và PTNT hoặc Liên minh hợp tác xã tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý HTX nông nghiệp.
Tỉnh Thừa Thiên Huế trích ngân sách hỗ trợ kinh phí trọn khoá học 2 năm trung cấp kế toán cho 20 học viên thi đậu (trong số 55 người do các HTX cử đi) khoá 38 lớp trung cấp kế toán do Đại học Kinh tế Huế tổ chức.
Tỉnh Phú Yên đã ban hành và thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng ngành nông nghiệp ra trường tình nguyện về HTX làm việc; cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật công tác tại cơ quan Nhà nước được điều động về công tác tại HTX được giữ nguyên chế độ, ngoài ra được hưởng phụ cấp gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh của hợp tác xã.
Tỉnh An Giang hỗ trợ 100% tiền học phí cho cán bộ được HTX cử đi đào tạo, bồi dưỡng tại cơ sở đào tạo của tỉnh; sinh viên ký hợp đồng sau khi ra trường làm việc cho HTX được miễn học phí trong suốt thời gian học và được ngân sách tỉnh hỗ trợ 1 năm đầu lương cơ bản. Tỉnh còn chi 200 triệu đồng cho đào tạo, tập huấn cán bộ tổ hợp tác.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX nông nghiệp của các địa phương tuy có đạt được một số kết quả bước đầu, tuy nhiên còn tồn tại nhiều bất cập. Chương trình đào tạo tập huấn hiện nay nặng về lý thuyết, ít nội dung về kinh nghiệm thực tiễn của các HTX. Phương pháp đào tạo tập huấn lạc hậu, ít chú trọng huy động sự tham gia, trao đổi, thảo luận của học viên. Kinh phí bố trí cho các hoạt động đào tạo tập huấn hạn hẹp.
- Chính sách bảo hiểm:
Theo báo cáo của 24 tỉnh, thành phố năm 2006 đã có 1.761 HTX tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho 10.291 cán bộ. Tỷ lệ số HTX có tham gia đóng bảo hiểm xã hội đạt khoản 27% tổng số HTX hiện có. Những tỉnh có tỷ lệ số HTX có tham gia bảo hiểm xã hội cao là: Nam Đinh 84%; Vĩnh Phúc 48%; Tuyên Quang 45%; Quảng Nam 59%; Phú Yên 49%; Tiền Giang 21%; ….
Tỉnh Nam Định, Hà Nam, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, Phú Yên … đã tiến hành thí điểm sau đó triển khai đóng bảo hiểm cho cán bộ chủ chốt HTX và người lao động thường xuyên trong HTX. Để tạo điều kiện cho các HTX tham gia thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, một số tỉnh có những cách làm tốt như:
Tỉnh Tuyên Quang, Bảo hiểm xã hội tỉnh đã xây dựng đề án, kế hoạch triển khai hướng dẫn bảo hiểm xã hội cho 130 HTX của tỉnh.
Tỉnh Bắc Giang, Liên ngành Nông nghiệp và PTNT - Bảo hiểm xã hội tỉnh có hướng dẫn thực hiện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho cán bộ và xã viên HTX.
Tỉnh Khánh Hoà: Bảo hiểm xã hội tỉnh đã hướng dẫn cho các HTX thực hiện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho các đối tượng hưởng lương trong HTX.
- Các hỗ trợ Hợp tác xã: Nhiều tỉnh đã có các hỗ trợ cho các Hợp tác xã thông qua các chương trình, dự án khuyến nông, khuyến ngư, nước sạch nông thôn, phát triển ngành nghề nông thôn, xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm, kiên cố hoá kênh mương, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.
Tỉnh Tuyên Quang chủ trương chuyển giao quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi từ UBND xã về cho các HTX nông nghiệp quản lý, sử dụng từ năm 1995. Đến nay hầu hết các công trình thuỷ lợi của Nhà nước đã bàn giao hết cho các HTX nông nghiệp quản lý sử dụng. Tỉnh cũng đã có Quyết định số 494/2002-QĐ-UB về vấn đề quản lý điện nông thôn trong đó có quy định chức năng, vai trò của HTX nông lâm nghiệp trong lĩnh vực này. Sở Công nghiệp của tỉnh cũng có các văn bản hướng dẫn về việc bàn giao quản lý điện nông thôn cho các HTX nông lâm nghiệp, kết quả đã bàn giao 105 Ban điện do UBND xã quản lý về cho 114 HTX nông lâm nghiệp.
TP. Hải Phòng: thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương sau trạm bơm, hầu hết các HTX được giao tổ chức thực hiện Chương trình này trong đó nông dân góp 30%, công trình hoàn thành ngân sách thành phố hỗ trợ 70%. Nhiều HTX còn trích quỹ HTX để đầu tư thêm.
Tỉnh Nam Định hỗ trợ 40% kinh phí đối với HTX xây dựng nhà bảo quản lạnh rau quả để tiêu thụ sản phẩm cho xã viên.
Tỉnh Thái Bình hỗ trợ các HTX xây dựng kho lạnh bảo quản khoai tây giống cho nông dân.
Tỉnh Hà Giang, đã hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay cho các Hợp tác xã, với mức vay bình quân 100 triệu đồng/HTX trong vòng 3 năm để kiên cố hoá kênh mương.
Tỉnh Yên Bái, trong khuôn khổ Chương trình khuyến nông, khuyến công đã hỗ trợ trang thiết bị chế biến sắn, tinh dầu quế, chế biến chè, …cho 6 HTX với 7 dự án với kinh phí 411 triệu đồng.
Tỉnh Thừa Thiên Huế có chính sách bàn giao công trình thuỷ lợi nhỏ cho HTX quản lý. Dự kiến năm 2007 sẽ bàn giao toàn bộ 52 trạm bơm cho các HTX nông nghiệp của tỉnh.
Tỉnh Phú Yên, UBND tỉnh có Quyết định số 273/2004/QĐ-UB chuyển các Ban quản lý điện của xã về cho các HTX nông nghiệp quản lý do nhiều HTX quản lý sử dụng công trình điện rất tốt, tỷ lệ giảm hao tải điện thấp như trường hợp HTX An Ninh Tây có tỷ lệ giảm hao điện từ 27% còn 12%.
Thực hiện Quyết định số 776/QĐ-UB năm 2004 của UBND tỉnh Khánh Hoà, 54 HTX nông, diêm nghiệp và thuỷ sản được ngân sách tỉnh cấp 2,6 tỷ đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà HTX đã đóng để hỗ trợ tăng vốn hoạt động cho các HTX.
Tỉnh Ninh Thuận, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, các HTX được ưu tiên vay vốn từ Chương trình 120 để phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi. Kết quả đã có 35 lượt dự án được vay vốn với số tiền là 3,4 tỷ đồng.
Tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh có Công văn số 4562/UBT ngày 30/20/2002 của Chủ tịnh UBND tỉnh chỉ đạo việc chuyển giao quản lý các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ, nước sạch nông thôn cho các HTX quản lý sử dụng. Đến nay, tỉnh đã chuyển giao được 19 công trình nước sạch cho 19 HTX và tổ hợp tác (trong đó 6 công trình cho 6 HTX và 13 công trình cho 13 tổ hợp tác) quản lý sử dụng với tổng giá trị các công trình này là 15 tỷ đồng. Hàng năm, Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức hội nghị giao ban với các HTX và các ban ngành liên quan để phối hợp giải quyết vướng mắc cho các HTX nông nghiệp của tỉnh.
Tỉnh Bình Dương đã hỗ trợ HTX 3 tỷ đồng thực hiện chuyển giao khoa học kỹ thuật chế biến nông sản, chăn nuôi bò sữa; sản xuất, chế biến rau màu theo mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao.
Tỉnh Sóc Trăng, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Đài phát thanh- truyền hình tỉnh xây dựng 04 phóng sự về tình hình hoạt động của các HTX nông nghiệp thực hiện Quyết định 80/2002/TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu thụ nông sản qua hợp đồng và về xây dựng thương hiệu nông sản.
Tỉnh Cà Mau trong 2 năm 2005-2006, Chi Cục HTX và PTNT phối hợp với các cơ quan liên quan lập phương án đầu tư hỗ trợ cho 10 HTX số vốn gần 700 triệu đồng để mua sắm máy móc phục vụ sản xuất. Kết quả giá dịch vụ làm đất giảm 5-20% so với giá thị trường, tạo hứng khởi cho xã viên trong việc xây dựng HTX. Năm 2007 tỉnh đang xúc tiến giải ngân 160 triệu đồng cho 6 HTX nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu giống mới.
Tỉnh Gia Lai, huyện Kbang trích ngân sách hỗ trợ mỗi HTX nông nghiệp 40 triệu đồng để xây dựng trụ sở sau khi có quyết định cấp đất của Nhà nước.
Tỉnh Đắc Nông có chủ trương hỗ trợ vốn cho các HTX nông nghiệp mới thành lập để xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị văn phòng phục vụ cho hoạt động của HTX. Trong 2 năm 2005, 2006 tỉnh đã hỗ trợ 7 HTX nông nghiệp với số tiền là 235 triệu đồng cho mục đích này.
Một số tỉnh đã thành lập quỹ hỗ trợ phát triển HTX như: Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Phú Yên...
- Xử lý Hợp tác xã nông nghiệp chưa chuyển đổi: Năm 2002 cả nước có 488 HTX chưa chuyển đổi đến cuối năm 2006 đã giảm mạnh còn 101 HTX. Cả nước có 52/64 tỉnh, thành phố xử lý xong HTX cũ chưa chuyển đổi; còn 12/64 tỉnh vẫn còn tồn tại các HTX chưa chuyển đổi thực chất là những HTX yếu kém hoạt động cầm chừng hoặc không hoạt động nhưng chưa làm thủ tục giải thể. Riêng tại 2 tỉnh miền núi phía Bắc có 54 HTX chưa chuyển đổi chiếm 55% tổng số HTX chưa chuyển đổi của cả nước.
- Xử lý công nợ trong HTX: Theo tổng hợp của Bộ Tài chính, nợ khê đọng của các HTX nông nghiệp đến 7/8/2006 là 492 tỷ đồng trong đó đã xử lý: 349 tỷ đồng. Số nợ đủ điều kiện nhưng chưa được xoá là 143 tỷ đồng. Đến ngày 25/5/2007, số nợ có đủ điều kiện nhưng chưa được xoá của các HTX nông nghiệp giảm còn 24 tỷ đồng.
1.4 Công tác quản lý Nhà nước đối với kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thành lập Cục Hợp tác xã và PTNT; 61/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Chi cục Hợp tác xã và PTNT hoặc Chi cục Phát triển nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT hiện đang thực hiên chức năng quản lý Nhà nước đối với kinh tế tập thể trong nông nghiệp. Hầu hết các huyện có nhiều HTX đều bố trí cán bộ kiêm nhiệm theo dõi tình hình các HTX nông nghiệp. Tuy nhiên rất ít nơi bố trí được cán bộ chuyên trách theo dõi. Nhìn chung các cán bộ cấp huyện hiện nay mới thực hiện được một phần chức năng thu thập thông tin báo cáo và chưa thực hiện được chức năng kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn cho các HTX, nhất là các hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý tài chính, công tác kế hoạch, tổ chức quản lý các hoạt động dịch vụ, …. cũng như các chức năng quản lý nhà nước khác về kinh tế tập thể như quy định trong Nghị định 177 của Chính phủ.
1.5 Hoạt động của các đoàn thể
Các Hội Nông dân, Hội phụ nữ và các tổ chức đoàn thể khác đóng vai trò quan trọng, nhất là đối với việc phát triển các tổ hợp tác ở những nơi nông dân có nhu cầu hợp tác nhưng HTX lại phát triển yếu kém như vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều nơi Hội Nông dân đã rất tích cực trong việc vận động thành lập và hỗ trợ hoạt động cho các tổ hợp tác trong nông nghiệp như các tổ đường nước, tổ đê bao, tổ giống lúa chất lượng cao, tổ chăn nuôi, ….. Hội nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ những tổ hợp tác khá phát triển thành HTX. Hội Phụ nữ hỗ trợ tổ chức nhiều tổ, nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong đời sống. Các tổ phụ nữ tín dụng tiết kiệm đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng chính sách xã hội cho đối tượng các phụ nữ nghèo nông thôn.
Liên minh hợp tác xã đã tổ chức tập huấn cho các cán bộ chủ chốt HTX (Chủ nhiệm, Trưởng kiểm soát và Kế toán trưởng). Một số nơi, Liên minh HTX đóng vai trò quan trọng trọng việc xây dựng và quản lý quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã của địa phương.
II - TÌNH HÌNH KINH TẾ TẬP THỂ TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN SAU 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 (KHOÁ IX)
A - NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Thực hiện Nghị quyết Trung ương, với sự triển khai của các cấp, các ngành, nhất là sự nỗ lực của các tổ hợp tác, hợp tác xã, kinh tế tập thể đã có sự chuyển biến, bước đầu đạt được một số kết quả, cụ thể như sau:
1. Đối với Tổ hợp tác:
Phong trào xây dựng tổ hợp tác tiếp tục phát triển, không chỉ ở những nơi chưa có tổ chức HTX mà còn ở những địa bàn HTX khá phát triển. Theo báo cáo của 61 tỉnh, thành phố năm 2006, cả nước có trên 137.497 tổ hợp tác với khoảng 3,5 triệu thành viên tham gia. Bình quân một tổ hợp tác có 26 thành viên. Trong tổng số tổ hợp tác, có khoảng 52% số tổ hoạt động trong lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp, 48% số tổ hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là nơi tập trung nhiều tổ hợp tác và là loại hình kinh tế hợp tác chính ở những địa phương này. Đặc biệt có 83% số tổ hợp tác có tài sản, vốn góp chung của cả nước tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Từ nhu cầu phát triển kinh tế hộ và điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi địa bàn nên tổ hợp tác được thành lập với hình thức tổ chức, quy mô và nội dung hoạt động rất đa dạng và phong phú. Hoạt động của tổ hợp tác chủ yếu hướng vào mục đích giúp đỡ, tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống như: trao đổi kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ nhau về giống mới, kỹ thuật mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản; cung cấp thông tin và tiêu thụ sản phẩm; động viên và cùng nhau xây dựng kênh mương, bờ bao chống lũ; tổ chức bơm nước, làm đất; xây dựng quỹ tương trợ giúp nhau vốn sản xuất.
Nét nổi bật của tổ hợp tác 5 năm qua là:
- Cơ chế tổ chức và quản lý từng bước được hoàn thiện và chặt chẽ hơn, số tổ hợp tác có tài sản dùng chung, thành viên tham gia góp vốn, góp sức; thực hiện phân phối lãi theo vốn góp; có quy chế nội dung hoạt động chiếm khoảng 7 % tổng số tổ hợp tác. Đến năm 2004 đã có 569 hợp tác xã thành lập mới từ những tổ hợp tác này.
- Nội dung hoạt động được mở rộng hơn, bám vào chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng biện pháp “3 giảm, 3 tăng” (giảm giống, giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật; tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập cho hộ nông dân).
- Tổ hợp tác đã đáp ứng và khắc phục được một số mặt yếu kém của kinh tế hộ như thiếu vốn, công cụ, kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất; tăng sức cạnh tranh thị trường. Do đó, tổ hợp tác đã góp phần nâng cao năng lực của kinh tế hộ; giúp các hộ sử dụng có hiệu quả hơn về đất đai, lao động, vật tư và tiền vốn; tiếp nhận những thông tin, tiến bộ khoa học - kỹ thuật góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh của kinh tế hộ.
- Tổ hợp tác đã phát huy tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất, đời sống, nhiều tổ thực sự đã giúp tăng thu nhập cho các hộ thành viên thông qua hợp tác, góp phần xoá đói, giảm nghèo; đồng thời còn là cầu nối giữa chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội với người nông dân trong công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Một số tỉnh đã tiến hành tổng kết về hoạt động của tổ hợp tác. Tỉnh Vĩnh Long đến cuối năm 2006 có 846 tổ hợp tác thì số tổ hợp tác xuất sắc có 12,8%, khá 42,5%, trung bình 30,6%, chỉ có 11,5% tổ yếu kém.
2. Đối với Hợp tác xã nông nghiệp:
Mặc dù có nhiều khó khăn song với sự nỗ lực của HTX, trong việc củng cố tổ chức, quản lý và hoạt động đã đạt được một số kết quả, cụ thể là:
a) Các HTX cũ đã cơ bản chuyển đổi xong, giải thể các HTX hình thức, không còn hoạt động; nhiều HTX mới được thành lập.
Đến cuối năm 2006 cả nước có 8.432 HTXNN, trong đó: có 6.391 HTX cũ và 2032 HTX thành lập mới. Trong số 6.391 HTX cũ, đã có 6290 HTX đã chuyển đổi, đạt tỷ lệ 98%. Các HTX chuyển đổi chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Nam trung bộ, các HTX thành lập mới có ở hầu khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ và Tây nguyên. Tổng số xã viên HTX nông nghiệp cả nước khoảng 6,3 triệu. Bình quân 1 HTX nông nghiệp có 743 xã viên. Tỷ lệ số hộ dân tham gia HTX nông nghiệp hiện nay khoảng 58%.
b) Các HTX chuyển đổi đã bước đầu khắc phục được tình trạng thua lỗ kéo dài và tính hình thức, không rõ ràng về xã viên và tài sản.
Năm 2006, số HTX hoạt động có lãi chiếm tỷ lệ 68% tổng số HTX, tăng 7% so với năm 2002, lãi bình quân là 33 triệu đồng/HTX; số HTX bị lỗ giảm, chỉ chiếm tỷ lệ 8% tổng số HTX. Cả nước có 38% số HTX khá, 41% số HTX trung bình và 21% số HTX yếu kém. Tỉnh Bình Định, thống kê 165 HTX năm 2006 thấy 98,5% số HTX báo cáo bảo toàn và phát triển vốn. Bình quân nguồn vốn kinh doanh 1 HTX là 1,8 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.
Để khắc phục tình trạng chuyển đổi hình thức các HTX tỉnh Quảng Nam đã xây dựng phương án xác định xã viên đích thực khi chuyển đổi bằng cách làm rõ vốn góp xã viên sau đó tiến hành cấp thẻ xã viên và thực hiện phân phối lãi hàng năm theo vốn góp. Đến nay toàn tỉnh đã có 90% số HTX nông nghiệp làm rõ xã viên của HTX mới sau chuyển đổi. Việc này đã tạo niềm tin và sự gắn bó của xã viên đối với HTX mới. HTX Đại Hiệp (huyện Đại Lộc), qua làm rõ xã viên đích thực và cổ phần của từng xã viên, HTX đã bán thu thêm được 50 triệu đồng tiền góp vốn mới để đầu tư mở rộng các hoạt động dịch vụ của HTX.
c) Ở mức độ khác nhau, HTX nông nghiệp đã thể hiện được vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá và hiệu quả kinh tế; góp phần tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá và hiệu quả kinh tế; phong trào xây dựng cánh đồng có thu hoạch đạt giá trị sản lượng 50 triệu đồng/ha/năm và hộ nông dân có thu nhập 50 triệu đồng/năm được tiến hành ở các địa phương. Với mức độ khác nhau, song hầu hết các HTX nông nghiệp là tổ chức tham mưu chính thực hiện quy hoạch, phân vùng sản xuất ở trên địa bàn HTX. Thông qua hoạt động dịch vụ của HTX như hướng dẫn xã viên đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là những giống cây, con mới có giá trị kinh tế cao; tổ chức tưới tiêu, bảo vệ thực vật, thú y... từ đó HTX đã thống nhất được kế hoạch sản xuất với xã viên, chỉ đạo hướng dẫn gieo trồng đúng thời vụ.
d) Nhiều HTX đã tham gia cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho xã viên. Một số HTX đã tổ chức được các hoạt động dịch vụ mới ngoài các dịch vụ truyền thống
Tuỳ theo điều kiện mỗi địa phương, năng lực của bộ máy quản lý mà HTX tổ chức các hoạt động dịch vụ khác nhau. Cả nước có 72% số HTX làm dịch vụ thuỷ lợi ; 43% số HTX làm dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón ; 56% số HTX làm dịch vụ khuyến nông; 31% số HTX nông nghiệp làm dịch vụ điện. Một số HTX mở thêm các ngành nghề mới như: chế biến tiêu thụ nông sản, tín dụng nội bộ, làm đồ mỹ nghệ, nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn. Nhiều HTX khá đang có xu hướng mở mang các ngành nghề dịch vụ mới theo mô hình HTX nông nghiệp đa chức năng. So với năm 2002, năm 2005 số HTX tổ chức tiêu thụ sản phẩm tăng từ 160 HTX lên 654 HTX; hoạt động tín dụng nội bộ tăng từ 215 HTX lên 696 HTX. Một số HTX mở thêm các ngành nghề mới như: chế biến nông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ mỹ nghệ, nước sạch, vệ sinh môi trường.
Thành phố Hà Nội : Một số HTX đã mở rộng thêm được các dịch vụ mới như dịch vụ môi trường (5%) ; dịch vụ nước sinh hoạt (6%) ; dịch vụ quản lý chợ (4%) là những dịch vụ mới mà tại năm 2002 các HTX chưa làm.
Tỉnh Nam Định : 11 HTX nông nghiệp tổ chức xây dựng và quản lý công trình nước sạch (trong đó 3 HTX có kiêm thêm dịch vụ thu gom rác thải). Hầu hết các HTX đều tổ chức tiêm phòng gia súc; trên 50% số HTX hàng vụ đều trích quỹ HTX bù lỗ cho hoạt động tiêm phòng gia súc.
Ở Tiền Giang: 27 HTX trong tổng số 37 HTX nông nghiệp của tỉnh làm dịch vụ cung cấp nước sạch theo Chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn.
HTX dịch vụ tổng hợp Anh Đào (Lâm Đồng) tuy mới thành lập năm 2003 song đến nay đã có bước phát triển nhanh, vững chắc bằng nội lực của HTX. Doanh thu năm 2003 là 3,3 tỷ đồng, năm 2006 tăng lên 7,1 tỷ đồng, 6 tháng đầu năm 2007 đạt trên 4 tỷ đồng. Bình quân mỗi năm HTX xuất khẩu và tiêu thụ trong nước 2100 tấn rau cho xã viên và các hộ nông dân. Từ vốn tích luỹ của HTX, trong 3 năm qua HTX đã xây dựng được trụ sở làm việc, cơ sở bảo quản chế biến rau, mua 4 xe tải chuyên vận chuyển rau và sử dụng máy tính nối mạng để phục vụ cho kinh doanh và quản lý của HTX. HTX Diên Toàn (Bình Định) đầu tư 270 triệu đồng xây dựng cơ sở giết mổ gia súc tập trung với công suất giết mổ 50 con gia súc/ngày đêm.
e) Đã xuất hiện các mô hình hợp tác mới như HTX chuyên ngành, liên hiệp hợp tác xã, liên kết giữa HTX với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác.
Cuối năm 2005 cả nước đã có 216 HTX nông nghiệp chuyên ngành. Hầu hết các HTX này đang hoạt động khá hiệu quả như: HTX trồng hoa cây cảnh, sản xuất rau an toàn, tiêu thụ trái cây, chăn nuôi tiêu thụ lợn. Tuy nhiên, mô hình HTX chuyên thuỷ lợi có ít xã viên ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ và mô hình Hội dùng nước hiện đang có những khó khăn, vướng mắc về cơ chế quản lý tài sản, thiếu vốn, do chỉ có một hoạt động và nguồn thu hạn chế từ thuỷ lợi phí theo quy định nên khó có khả năng phát triển ổn định.
Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (trong khuôn khổ Dự án Dialogs) đã hỗ trợ thành lập được 33 HTX chuyên ngành về chăn nuôi, thuỷ sản và trồng trọt và thành lập được 2 liên hiệp HTX gồm: Liên hiệp HTX chăn nuôi Tiến Thành có 9 thành viên là 9 HTX chuyên chăn nuôi và Liên hiệp HTX nông nghiệp Tiên Phong gồm 9 thành viên là 9 HTX dịch vụ nông nghiệp tham gia. Đến nay tỉnh Bắc Ninh có 36 HTX chuyên ngành, trong đó có 18 HTX chăn nuôi lợn; 1 HTX chăn nuôi gia cầm; 3 HTX chăn nuôi bò sữa; 3 HTX sản xuất lúa giống; 10 HTX thuỷ sản và 3 HTX chuyên ngành khác. Tỉnh Cần Thơ hiện có 6 HTX sản xuất giống lúa, 5 HTX chăn nuôi, 1 HTX chuyên rau an toàn. Nhìn chung các HTX chuyên ngành hoạt động có hiệu quả, hỗ trợ về phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên.
Hiện đã xuất hiện một số mô hình liên hiệp HTX và mô hình liên kết giữa HTX với các công ty, doanh nghiệp để cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho xã viên. Cuối năm 2005 cả nước đã có 128 HTX tham gia các liên hiệp HTX. Tỉnh Khánh Hoà, Quảng Trị, thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Liên hiệp HTX nông nghiệp. Huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định thành lập Liên hiệp HTXNN với 12 HTX thành viên với tổng vốn góp 1,2 tỷ đồng; Liên hiệp HTX nông nghiệp Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà gồm 4 HTX nông nghiệp, 2 HTX muối, 1 HTX tiểu thủ công nghiệp với tổng vốn góp 1,5 tỉ đồng. Hoạt động của Liên hiệp HTX đã tạo điều kiện và giúp đỡ các thành viên đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ bước đầu có kết quả. Tháng 7 năm 2002, trên cơ sở Câu lạc bộ chủ nhiệm HTX và giám đốc doanh nghiệp nông lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bình Định còn hỗ trợ thành lập Hiệp hội các HTXNN và doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp với 75 HTX 3 doanh nghiệp và 2 đơn vị sự nghiệp, khoa học là các thành viên của Hiệp hội. Hiệp hội đã giúp các thành viên trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, bồi dưỡng cán bộ nghiệp vụ kỹ thuật cho HTX; phổ biến các chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế tập thể, thông tin kinh tế thị trường….góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.
Mô hình liên kết giữa các HTX với các công ty để cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản cho nông dân đã xuất hiện khá phổ biến ở các địa phương.
Về liên kết cung ứng dịch vụ đầu vào cho nông dân: Để khắc phục các hạn chế về vốn và quản lý cũng như phát huy thế mạnh vốn có về quan hệ với xã viên, nhiều HTX đang đi theo hướng phát triển liên doanh liên kết với các công ty, các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế để cung ứng vật tư, các dịch vụ đầu vào cho xã viên:
Tỉnh Bắc Ninh, 18 HTX huyện Gia Bình, 35 HTX huyện Tiên Du liên kết với công ty hoá chất Hà Bắc và công ty hoá chất Lâm Thao đã cung cấp phân bón theo phương thức ứng trước, trả chậm; 27 HTX liên kết với Công ty giống cây trồng trong và ngoài tỉnh để sản xuất và tiêu thụ giống lúa; 171 HTX đã liên kết với các tư nhân có máy cày, máy bừa để tổ chức dịch vụ làm đất cho xã viên.
Tỉnh Thái Bình: 70% số HTX liên kết với các công ty phân bón, công ty thuốc bảo vệ thực vật cung ứng 50% phân đạm, kali, 80% thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân theo phương thức trả chậm.
Tỉnh Khánh Hoà: HTX thị trấn Ninh Hoà đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất giống lúa 34 ha chuyên sản xuất giống, 02 máy sấy, hệ thống sàng lọc giống; mỗi năm cung cấp cho nông dân từ 300 đến 400 tấn lúa giống tốt.
Tỉnh Bình Định: 79 HTX nông nghiệp liên kết với Công ty vật tư kỹ thuật nông nghiệp tỉnh và HTX Thị trấn Bình Định để làm đại lý phân bón, thuốc trừ sâu bệnh; 53 HTX liên kết với Trung tâm giống cây trồng để hợp đồng sản xuất giống và làm đại lý tiêu thụ giống lúa; 17 HTX trong vùng nguyên liệu mía liên kết với Công ty cổ phần đường Bình Định để đầu tư vốn, mía giống, hướng dẫn kỹ thuật cho xã viên sản xuất và tổ chức thu mua, tiêu thụ mía nguyên liệu do xã viên sản xuất.
Về liên kết trong tiêu thụ nông sản: mô hình liên kết 4 nhà theo Quyết định 80/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đang được thực hiện ở nhiều địa phương, như: tỉnh Đồng Nai, Sóc Trăng, Cần Thơ, Bến Tre, thành phố Hồ Chí Minh, TP Vũng Tàu, tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh... nhiều HTX cùng với Công ty Bông vải miền Trung, Công ty Muối ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất, thực hiện liên kết “4 nhà” vận động nhân dân trong vùng nguyên liệu mua cổ phần của nhà máy để gắn sản xuất nguyên liệu với nhà máy thông qua hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá.
Thông qua hình thức liên kết này, các HTX ở tỉnh An Giang mà điển hình là HTX Bình Mỹ, HTX Hưng Phát - Đào Hữu Cảnh - Phú Châu; HTX nông nghiệp Hoà Thuận; HTX Đức Thành; HTX Hiệp Phú đã ký hợp đồng với các công ty trong và ngoài tỉnh, tiến hành sản xuất, tiêu thụ hàng nghìn tấn lương thực và rau màu thực phẩm cho các hộ xã viên.
Tỉnh Bình Định nhiều HTX đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp Nhà nước và các thành phần kinh tế khác để huy động vốn, kinh nghiệm quản lý, tăng năng lực cạnh tranh của HTX; tiêu biểu là HTX Mỹ Hiệp I, Nhơn Hậu và 17 HTX trong vùng nguyên liệu mía đã liên kết với Công ty cổ phần Đường Bình Định để thu mua, tiêu thụ 28000 tấn mía cây cho xã viên;
Tỉnh Thái Bình, 10% số HTX ký với các công ty liên quan tiêu thụ 30 ngàn tấn rau quả xuất khẩu mỗi năm.
Hình thức tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng liên doanh, liên kết đối với HTX đang còn mới mẻ và còn có nhiều khó khăn nhưng đã được nhiều HTX hưởng ứng, vì đây là phương thức làm ăn mới trong cơ chế thị trường và thực sự là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, và phát triển HTX.
Ngoài việc liên kết, liên doanh giữa các HTX với các tổ chức, cá nhân, từ năm 2003 đã xuất hiện xã viên HTX là pháp nhân. Đến cuối năm 2005 cả nước đã có 3.184 pháp nhân tham gia và làm xã viên HTX. Đồng Nai: HTX dâu tằm tơ Đắc Lua, HTX chăn nuôi Phú Xuân kết nạp doanh nghiệp vào HTX đã có điều kiện để tăng vốn hoạt động và bao tiêu sản phẩm. An Giang: Công ty XNK của tỉnh đã góp 30% vốn điều lệ để trở thành thành viên của HTX Trường Thạnh; cán bộ có kinh nghiệm quản lý kinh doanh của công ty được cử tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh của HTX.
f) Nhiều HTX thực hiện tốt chức năng xã hội thông qua việc tham gia các hoạt động phát triển nông thôn như xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xoá đói giảm nghèo.
Hầu hết các HTX đều sử dụng quỹ công ích trích từ lãi kinh doanh để chi cho các hoạt động hỗ trợ các hộ xã viên có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều HTX đã có những hỗ trợ thiết thực, trực tiếp cho các hộ nghèo, như: cho vay lãi suất thấp, ứng trước giống, phân bón với các điều kiện ưu đãi, hỗ trợ tạo công ăn việc làm trong HTX... Những HTX khá, kinh doanh có lãi cao đều tích cực tham gia hỗ trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng của cộng đồng.
B - NHỮNG TỒN TẠI, KHÓ KHĂN VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Đối với Tổ hợp tác:
Mặc dù là mô hình kinh tế thích hợp với trình độ sản xuất của kinh tế hộ nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền núi phía Bắc nhưng tổ hợp tác đang còn những hạn chế và khó khăn, cụ thể là:
- Phát triển tổ hợp tác còn mang tính tự phát, tổ chức thiếu chặt chẽ nên gặp nhiều khó khăn trong giao dịch kinh tế, hưởng các chính sách của Nhà nước và giải quyết, xử lý các tranh chấp trong nội bộ tổ, giữa tổ hợp tác với các thành phần kinh tế khác.
- Hầu hết cán bộ tổ hợp tác chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý kinh doanh, nên việc chỉ đạo tổ phát triển sản xuất, kinh doanh còn rất hạn chế, vấn đề trên đã đưa tới sự nhận thức không đầy đủ của nhiều người về mục đích của tổ là đơn thuần làm công tác xã hội.
2. Đối với HTX nông nghiệp:
Phong trào HTX tuy đã có những bước tiến bộ nhưng nhìn chung còn đang có nhiều hạn chế:
a) Tính hình thức trong chuyển đổi HTX theo Luật Hợp tác xã chưa được khắc phục căn bản.
Về xã viên HTX: đa số xã viên của các HTX chuyển đổi khi tham gia HTX không có đơn và vốn góp mới. Việc lập chung một danh sách xã viên cũ để lấy ý kiến gia nhập của họ vào HTX mới cũng như việc phân bổ chung tài sản của HTX cũ cho các xã viên này để thành vốn góp của họ trong HTX mới đã không đáp ứng yêu cầu căn bản là muốn gia nhập HTX thì xã viên phải tự nguyện và phải góp vốn. Tỉnh Hải Dương, 90% số xã viên HTX chuyển đổi khi tham gia HTX không viết đơn mà cán bộ HTX chỉ lập danh sách, vốn góp của xã viên được phân bổ từ vốn, quỹ HTX cũ sang. Đến nay, nhiều nơi, việc kết nạp xã viên mới vẫn tiến hành không đúng theo quy định của Luật Hợp tác xã vì vậy dẫn đến xã viên không ý thức đầy đủ được quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong HTX. HTX là tổ chức kinh tế của xã viên là những người cùng có nhu cầu hợp tác nên có tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại.
Về tài sản HTX: tình trạng không rõ ràng về quyền sở hữu tài sản của HTX còn khá phổ biến, nhất là các tài sản gắn với đất đai. Ngoài ra, nhiều nơi việc UBND xã thay mặt cộng đồng giao cho HTX nông nghiệp quản lý hệ thống kênh mương, công trình điện chưa được tổ chức thực hiện tốt nên xã viên ít quan tâm đến quản lý và đầu tư xây dựng. Điều này còn gây nên sự can thiệp của chính quyền địa phương vào các hoạt động của các HTX làm ảnh hưởng đến tính tự chủ của HTX và cũng là nguyên nhân dẫn đến tính hình thức trong chuyển đổi của các HTX chưa thể khắc phục được triệt để.
b) Nhiều HTX quy mô nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, khả năng cạnh tranh thấp, chậm đổi mới, năng lực nội tại của các HTX còn yếu
Bên cạnh một bộ phận HTX chuyển đổi tốt, làm ăn có hiệu quả, được xã viên tin tưởng, còn nhiều HTX vẫn chưa thể hiện được sự năng động đổi mới trong sản xuất kinh doanh để thích ứng với cơ chế thị trường. Hiện vẫn còn 101 HTX chưa chuyển đổi. Trên thực tế đây là những HTX yếu kém, ít hoạt động nhưng chưa làm thủ tục giải thể. Theo báo cáo của Đoàn khảo sát Tây Nam bộ cho thấy khu vực đồng bằng sông Cửu Long phần lớn các HTX mới thành lập trên cơ sở tập đoàn, liên tập đoàn, tổ hợp tác, nhóm nông dân. Các HTX này xuất phát từ nhu cầu của xã viên và phát huy được tính tự nguyện, dân chủ trong HTX, song do năng lực quản lý yếu kém, vốn tài sản nhỏ bé do đó hoạt động cầm chừng hiệu quả chưa cao. Nhìn chung các HTX nông nghiệp do những người lao động, nông dân nghèo, thiếu vốn, thiếu kiến thức thành lập nên. Vì vậy, số xã viên HTX thường là đông song HTX hoạt động ít hiệu quả. Đã xuất hiện một số mô hình HTX mới làm ăn có hiệu quả nhưng không nhân rộng ra được.
Hiện có 25% số HTX vẫn ở quy mô thôn bản ấp. Nguồn vốn kinh doanh bình quân 1 HTX chỉ có 585 triệu đồng. Vì vậy, các HTX rất khó triển khai các hoạt động đòi hỏi vốn lưu động lớn như kinh doanh vật tư phân bón, tiêu thụ nông sản. Nhiều HTX phải chuyển sang kinh doanh vật tư theo cơ chế đại lý hưởng hoa hồng. Hiện đa số các HTX vẫn chỉ tập trung vào các dịch vụ truyền thống như thuỷ lợi, khuyến nông, tỷ lệ số HTX tổ chức được các dịch vụ mới chưa cao, như: tiêu thụ nông sản (8% số HTX), tín dụng nội bộ (7 %HTX).
Cả nước có 38% HTX chưa có trụ sở riêng mà phải mượn tạm phòng làm việc trong trụ sở UBND xã hoặc nhờ địa điểm tại nhà của một cán bộ HTX hoặc thuê mượn để làm việc. Vùng đồng bằng sông Cửu Long có 764 HTX thì 604 HTX chưa có trụ sở làm việc (79%).
- Nhiều tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và có khả năng sinh lợi cao như các cửa hàng vật tư, cơ sở dịch vụ, ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, … lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vấn đề trên làm cho HTX phụ thuộc nhiều vào sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, HTX thiếu tính độc lập, tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
c) Đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn hạn chế về trình độ, năng lực, không ổn định làm việc lâu dài trong HTX
Nhìn chung đội ngũ cán bộ HTX có tâm huyết và làm việc vì lợi ích của HTX và cộng đồng. Nhiều cán bộ đã là nhân tố quan trọng đóng góp cho thành công của một số HTX trong cơ chế mới. Tuy vậy, một trong những khó khăn lớn nhất của các HTX là chất lượng đội ngũ cán bộ. Đa số chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Cán bộ HTX nhất là cán bộ chủ chốt không ổn định, thay đổi thường xuyên, nhiều cán bộ không nhiệt tình. Số cán bộ có năng lực muốn chuyển sang làm công việc khác ổn định hơn như chuyển sang cán bộ xã.
Hiện nay có tới 28% chủ nhiệm HTX có trình độ văn hoá cấp 1, 37% cấp 2. Đa số cán bộ quản lý HTX chưa qua tập huấn nghiệp vụ chuyên môn trước khi đảm nhiệm các vị trí quản lý HTX. Việc tập huấn còn chắp vá, ngoài ra tình trạng cán bộ chủ chốt HTX chuyển sang làm công tác chính quyền để có chế độ ổn định hơn diễn ra khá phổ biến. Tình hình này cùng với tâm lý không ổn định làm việc lâu dài cho HTX của một số cán bộ chủ chốt HTX đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của HTX. Ở không ít địa phương việc lựa chọn cán bộ HTX hoàn toàn phụ thuộc vào tổ chức Đảng và chính quyền. Có nơi lấy HTX làm môi trường đào tạo cán bộ để làm công tác chính quyền và công tác Đảng vì vậy cán bộ HTX luân chuyển liên tục. Tổng hợp tình hình đại hội xã viên nhiệm kỳ vào năm 2006 của 155 HTX tỉnh Bắc Ninh cho thấy có 68 HTX (chiếm 48,3%) thay đổi Chủ nhiệm; 64 HTX (chiếm 41,3%) thay đổi Trưởng Ban kiểm soát; 40 HTX (chiếm 25,8%) thay đổi Kế toán trưởng.
Thù lao cán bộ quản lý thấp cũng là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác quản lý HTX. Nhiều HTX khó thu hút được cán bộ trẻ có năng lực, được đào tạo chuyên môn về làm việc cho HTX. Một số địa phương có những chính sách ưu đãi cho sinh viên mới ra trường về công tác trong các HTX nhưng kết quả thu được không khả quan. Mức thù lao thấp còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nhiều HTX không trả đủ lương tối thiểu để mua bảo hiểm xã hội cho cán bộ quản lý HTX. Tỉnh Phú Thọ, 88% số chủ nhiệm HTX có mức thù lao quản lý dưới 500.000 đồng/tháng (trong đó 57% số chủ nhiệm hưởng thù lao thấp hơn 300.000 đồng/tháng).
Đa số cán bộ quản lý HTX nông nghiệp hiện nay làm việc trên cơ sở kinh nghiệm tích luỹ được và chưa được đào tạo tập huấn đầy đủ nhất là các vị trí Chủ nhiệm và Kế toán trưởng. Tỉnh Thái Nguyên, trong số 120 HTX nông nghiệp của tỉnh chỉ có 19 HTX thực hiện được chế độ kế toán theo quy định. Nhiều HTX chưa xây dựng được kế hoạch, chiến lược phát triển trung và dài hạn. Công tác kế hoạch không được coi trọng đúng mức, nhiều nơi còn làm hình thức.
e) Công nợ trong HTX nhất là HTX chuyển đổi chậm được xử lý đã làm cản trở cho sự phát triển HTX.
Việc xử lý công nợ làm minh bạch tài chính trong HTX là điều kiện để HTX mở rộng và thúc đẩy hoạt động có hiệu quả. Thời gian qua, chính quyền địa phương đã chỉ đạo HTX xử lý công nợ, (bao gồm nợ phải thu và phải trả) song kết quả đạt được còn chưa được như mong đợi. Theo thống kê của Bộ Tài chính đến ngày 25/5/2007, số nợ có đủ điều kiện nhưng chưa được xoá của các HTX nông nghiệp vẫn còn 24 tỷ đồng.
Thu nợ cũ đã gặp khó khăn nay xã viên lại phát sinh nợ mới ở khá nhiều HTX nhất là nợ chi phí thuỷ lợi phí và thuỷ nông nội đồng. Tỉnh Khánh Hoà nhiều HTX được sự hỗ trợ của cấp uỷ, chính quyền địa phương đã thành lập Ban thu nợ, các công ty thuỷ nông có cơ chế trích thưởng 25% số nợ thu được để khuyến khích HTX, chính quyền, đoàn thể thu nợ, song số nợ cũ thu được cũng chỉ bằng số nợ mới phát sinh.
Những khó khăn, tồn tại của HTX nêu trên, nhất là ở những HTX chuyển đổi đã không phát huy được khả năng của mỗi xã viên và sức mạnh của kinh tế tập thể; mặt khác, các quan hệ giữa HTX với xã viên, giữa HTX với các thành phần kinh tế để huy động vốn, thực hiện liên doanh, liên kết; hợp đồng cung ứng vật tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm... khó được thực hiện làm cản trở lớn đối với việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.
Tồn tại và khó khăn của Hợp tác xã và Tổ hợp tác là do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Nguyên nhân khách quan:
a) Kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển chưa mạnh, sản xuất của hộ nông dân ở nhiều nơi còn mang tính tự cấp, tự túc, quy mô nhỏ, nên nhu cầu hợp tác chưa cao.
b) Những tồn tại do lịch sử để lại cho HTX sau chuyển đổi, đặc biệt là công nợ trong HTX; ảnh hưởng của cách nghĩ, cách làm của mô hình HTX cũ đối với cán bộ, xã viên HTX còn khá nặng nề và phức tạp.
c) HTX, tổ hợp tác hoạt động với hai mục đích: kinh tế và xã hội, nên rất khó cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.
Nguyên nhân chủ quan:
a) Nguyên nhân nội tại quan trọng nhất là đa số các HTX nông nghiệp chưa thực sự đổi mới về tổ chức và hoạt động theo đúng các nguyên tắc và giá trị của HTX nên thiếu động lực để phát triển. Chỉ khi nào khắc phục được các tồn tại căn bản hiện nay như việc thiếu động lực cho xã viên, cán bộ quản lý tham gia vào các hoạt động HTX; thực hiện tốt nguyên tắc dân chủ, tôn trọng tính độc lập, tự chịu trách nhiệm trong quản lý và bản chất của một tổ chức hợp tác tự nguyện, tự giúp đỡ lẫn nhau của nông dân; cải tiến quản lý HTX theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả khi đó HTX mới có thể nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng được tốt các nhu cầu dịch vụ của xã viên để từ đó xã viên tham gia HTX thấy có lợi ích rõ rệt thì họ mới tha thiết và HTX mới phát triển bền vững.
b) Về nhận thức và chỉ đạo của chính quyền các cấp
Nhiều nơi chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức tới lãnh đạo, chỉ đạo phát triển HTXNN, chủ yếu là ra văn bản chỉ đạo, hô hào nhưng ít có hành động cụ thể. Hoạt động của các Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể của các địa phương hiện nay chưa hiệu quả. Nhiều Ban chỉ đạo chưa tháo gỡ giải quyết các khó khăn vướng mắc của các HTX cũng như xúc tiến chỉ đạo tổ chức thực hiện các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển HTX như đã quy định trong Nghị định 88.
Sự phân công, phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể ở địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ HTX thiếu chặt chẽ. Hiện nay ở nhiều nơi, chỉ có Sở Nông nghiệp và PTNT và Liên minh HTX Việt Nam là có các hoạt động có tính thường xuyên hỗ trợ, hướng dẫn cho các HTX nông nghiệp. Phần lớn các cơ quan liên quan khác rất ít quan tâm đến lĩnh vực này.
Mặt khác có địa phương chỉ đạo hoặc can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ của HTX như: sắp xếp nhân sự, định giá cả dịch vụ, phân phối trong HTX nhưng lại ít quan tâm hỗ trợ các HTX giải quyết các khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Tình trạng coi HTX là cánh tay nối dài của chính quyền xuất hiện ở nhiều nơi, nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng. Những nơi HTX nông nghiệp hoạt động yếu kém thường có nguyên nhân từ việc thực hiện vai trò lãnh đạo, hướng dẫn, hỗ trợ của cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa tốt. Tỉnh Bắc Giang qua kiểm tra thấy còn tình trạng lẫn lộn trong quản lý HTX và vai trò của chính quyền nhất là đối với HTX quy mô nhỏ cấp thôn. Cả chính quyền và chi bộ đều tham gia điều hành trực tiếp hoạt động của HTX, chi bộ cử một đồng chí chi uỷ tham gia Ban kiểm soát mà không cần qua bầu cử của xã viên.
c) Tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ HTX kém hiệu quả
Tình trạng chung hiện nay là các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX đã được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ như nêu trong Luật Hợp tác xã và các Nghị định liên quan nhưng không được triển khai thực hiện tốt.
C - ĐÁNH GIÁ CHUNG
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, số lượng tổ hợp tác tăng và đa dạng, phù hợp và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hộ. Công tác tổ chức, quản lý HTX bước đầu được củng cố, khắc phục tình trạng thua lỗ kéo dài; quản lý HTX đã có những thay đổi tiến bộ theo hướng dân chủ và minh bạch hơn.
Ngoại trừ một bộ phận số HTX loại giỏi vươn lên thực hiện liên doanh liên kết, tìm kiếm ngành nghề, mở rộng hoạt động, đa dạng hoá lĩnh vực kinh doanh; đổi mới phương thức điều hành, tiếp tục có những đổi mới để thích ứng với thị trường và nhu cầu xã viên và có những bước phát triển mới, khẳng định vai trò của HTX đối với xã viên và cộng đồng, nhìn chung chất lượng hoạt động của các HTX có chiều hướng suy giảm. Số lượng HTX loại khá giỏi không tăng, nhiều HTX loại trung bình hoạt động cầm chừng và yếu kém đi. Số HTX tồn tại trên danh nghĩa có xu hướng tăng lên.
Đa số các HTX chưa năng động trong phát triển kinh doanh. Tiềm lực nội tại của các HTX hạn chế và yếu thế trong việc cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác. Còn nhiều HTX mới làm được dịch vụ đầu vào, còn bỏ trống khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp tín dụng cho xã viên; chưa mạnh dạn thực hiện liên doanh, liên kết để mở thêm ngành nghề mới. Những HTX yếu kém chưa có sự chuyển biến rõ nét về nội dung và hiệu quả hoạt động.
Việc triển khai các chủ trương chính sách đã nêu trong Nghị quyết còn chậm, nhất là tổ chức thực hiện các chính sách đã ban hành ở địa phương. Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về kinh tế tập thể từ tỉnh đến huyện ở nhiều địa phương chưa được củng cố cả về số lượng và chất lượng cán bộ cũng như các điều kiện đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
D - KINH NGHIỆM CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 (KHOÁ IX)
Qua kết quả chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết của các địa phương, của những HTX điển hình; những kinh nghiệm rút ra, cụ thể như sau:
- Kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mà nòng cốt là HTX có vị trí quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, song HTX nông nghiệp có những đặc thù riêng gắn với nông nghiệp, nông dân và cộng đồng xã hội, nên các HTX không tự hình thành và hoạt động độc lập mà cần có sự lãnh đạo, vận động, hướng dẫn của Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp. ở tỉnh, huyện, xã nơi nào có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất; sự chỉ đạo cụ thể, sát sao của chính quyền thì ở đó phong trào kinh tế tập thể phát triển; khó khăn, tồn tại của Hợp tác xã được xử lý; tổ chức, quản lý và nội dung hoạt động của HTX chuyển biến tích cực.
- Sự phát triển và thành công của HTX là do chính HTX quyết định mà yếu tố cơ bản là năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, đứng đầu là Chủ nhiệm HTX. Nhà nước có vai trò quan trọng, tạo môi trường thuận lợi, định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ HTX trong quá trình phát triển, nhất là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, tạo nguồn nhân lực cho HTX. Chính quyền địa phương không làm thay hoặc can thiệp trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX, làm giảm tính năng động của cán bộ quản lý, tính độc lập, tự chủ của HTX, dẫn tới HTX ỷ lại, trông chờ vào chính quyền, Nhà nước.
- Phát huy dân chủ trong các hoạt động của HTX, đặc biệt vấn đề xử lý công nợ; thu chi và phân phối, làm lành mạnh công tác tài chính trong HTX. Trong phân phối lãi ưu tiên để quỹ tái sản xuất, đặc biệt chú ý phân phối theo vốn góp và mức độ sử dụng dịch vụ của HTX, để xã viên gắn bó với HTX và thúc đẩy HTX mở rộng các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ.
- Phương án sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của HTX phải mang tính khả thi và gắn với thị trường, HTX mở rộng liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp để tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm; đồng thời huy động vốn hoạt động HTX; dạy nghề cho xã viên, mở mang ngành nghề mới, khai thác thế mạnh tiềm năng của kinh tế hộ ở địa phương.
III - BIỆN PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TẬP THỂ TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
1. Về quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể
- Trên cơ sở nhận thức đúng về vị trí, vai trò kinh tế tập thể, trong quan điểm chỉ đạo cần tỏ rõ quan điểm “Trình độ sản xuất tới đâu thì có mô hình sản xuất tương ứng tới đó”, không nên đặt chỉ tiêu phát triển số lượng HTX, không gò ép, khiên cưỡng trong phát triển kinh tế tập thể, nhà nước chỉ tạo môi trường và hỗ trợ để tự thân các HTX, tổ hợp tác phát triển. Tiếp tục củng cố, đổi mới HTX cả về tổ chức, quản lý và hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới, tạo ra động lực mới trong từng HTX. Đổi mới tổ chức quản lý HTX theo hướng chuyển mạnh hoạt động sang hạch toán kinh doanh với hai mục tiêu đem lại lợi ích cho xã viên và không ngừng tích luỹ cho kinh tế tập thể HTX.
Theo định hướng này xã viên vừa là chủ HTX vừa là khách hàng của HTX. HTX sẽ thực hiện hạch toán kinh doanh trong các dịch vụ theo yêu cầu xã viên, do xã viên bàn bạc quyết định.
- Tổng kết và xây dựng các mô hình HTX theo đúng bản chất HTX để minh chứng, xoá bỏ những mặc cảm không tốt về HTX đang tồn tại hiện nay. Nhà nước vừa có cơ chế thông thoáng về thủ tục hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho những HTX có tiềm lực kinh tế khá và có năng lực quản lý kinh doanh tiếp tục phát triển; vừa có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các HTX của những người nghèo, có thu nhập thấp, sản xuất nhỏ, yếu thế trong thương trường chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, nông thôn phát triển phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO như chính sách: hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, lao động làm việc ở HTX và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho HTX.
- Khuyến khích phát triển các loại hình tổ hợp tác, đa dạng hoá các hình thức hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ hợp tác phát triển bền vững hơn. Khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi để các tổ hợp tác phát triển lên thành HTX hoặc doanh nghiệp khi có nhu cầu.
- Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển tổ hợp tác, trong đó tập trung vào công tác tuyên truyền, hướng dẫn và đào tạo bồi dưỡng tổ trưởng, ban điều hành tổ.
Các địa phương cần tập trung chỉ đạo để gắn việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình khuyến nông, chương trình tào việc làm... với việc phát triển tổ hợp tác và HTX.
- Cần có nhận thức đầy đủ về mô hình kinh tế tập thể
Sự phát triển của kinh tế thị trường thời gian qua đã hình thành các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp, Kinh tế tập thể (HTX và tổ THT) và kinh tế cá thể hộ gia đình. Các Doanh nghiệp với tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của các cổ đông và tạo ra sản phẩm cho xã hội có hiệu quả, hoạt động rất năng động, thay đổi liên tục để tồn tại và phát triển trong thị trường cạnh tranh, với mục tiêu thu được lợi nhuận cao nhất. Tỉnh Long An mỗi ngày có 2 Doanh nghiệp đến đăng ký thành lập, các tỉnh khác mỗi năm thành lập được hàng trăm Doanh nghiệp. Đó là những cá nhân có vốn có đầu óc sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó đang tồn tại số đông dân cư và người lao động sống chủ yếu bằng nghề nông ở trong khu vực nông thôn. Đây là lực lượng đông đảo về số lượng, nhưng tiềm lực kinh tế, năng lực cạnh tranh thấp, dễ bị tổn thương trong nền kinh tế thị trường. Họ luôn bị cạnh tranh, chèn ép. Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển, họ phải tập hợp nhau lại trên các nguyên tắc hợp tác để giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong sản xuất, lưu thông, đối phó lại với áp lực thị trường, bảo vệ lợi ích của chính mình. Trong thực tiễn đã có hàng chục ngàn tổ hợp tác và hàng trăm HTX được hình thành và hoạt động rất đa dạng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, phát triển kinh tế tập thể là nhu cầu tất yếu khách quan. Tuy nhiên, nhận thức từ trước đến nay về kinh tế tập thể thường chỉ nhìn vào HTX, xem nhẹ tổ hợp tác. Do đó nếu chỉ nhìn vào thực trạng HTX để đánh giá kinh tế tập thể là chưa đúng và chưa toàn diện. Báo cáo Đoàn khảo sát Tây Nam bộ có đề xuất “các địa phương ở Nam Bộ và Trung ương cần có tổng kết đánh giá toàn diện về tổ hợp tác từ đó có cơ chế, chính sách định hướng phát triển tổ hợp tác theo đúng các quy định của pháp luật”.
Đối với các HTX cần nhận thức đầy đủ về các dạng HTX để có cơ chế chính sách khuyến khích phù hợp:
Đối với HTX có năng lực quản lý kinh doanh, có tiềm lực kinh tế khá, vốn lớn cần khuyến khích phát triển và tạo điều kiện hoạt động để tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Đối với HTX của những người nghèo, có thu nhập thấp, sản xuất nhỏ, yếu thế trong thương trường. Đây là những HTX ít vốn, xã viên tham gia HTX không có vốn, hoặc góp rất ít vốn , năng lực trình độ quản lý hạn chế, xã viên chỉ tự giúp nhau sản xuất kinh doanh dịch vụ đơn giản hoặc giải quyết một số chính sách xã hội của địa phương, trong đó có xoá đói giảm nghèo, giúp vay vốn, tạo niềm tin, chỗ dựa cho xã viên. hoạt động của HTX chủ yếu là dịch vụ cho phát triển sản xuất của các thành viên. Nếu chỉ nhìn vào kết quả hoạt động về kinh tế như doanh thu, lãi để đánh giá HTX thì chưa toàn diện, mà phải đánh giá các tác động mang lại từ hoạt động của HTX đối với xã viên. Đây là những HTX đòi hỏi giúp đỡ nhiều của nhà nước, cần ưu tiên những HTX này nhưng phải nghiên cứu, xem xét áp dụng trong khuôn khổ pháp luật và kể cả thông qua một số chính sách xã hội khác.
3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách; pháp luật về kinh tế tập thể
Cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các chủ trương, chính sách về kinh tế tập thể đến cán bộ, đảng viên, nông dân, xã viên, các chủ trang trại để tạo chuyển biến trong nhận thức về phát triển kinh tế tập thể. Công tác thông tin tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên và có sự tham gia của nhiều cơ quan, nhất là các cơ quan thông tin đại chúng.
4. Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý HTX
Đây là biện pháp quan trọng đối với sự phát triển của tổ hợp tác, hợp tác xã. Ngoài công tác bồi dưỡng, tập huấn hàng năm cho cán bộ quản lý HTX, tăng cường công tác đào tạo cán bộ đương chức, trước hết đối với những cán bộ giữ chức danh chủ chốt trong HTX, cán bộ nguồn. Mỗi HTX cần gắn quy hoạch cán bộ với cơ chế bầu cử; quy định tiêu chuẩn, trình độ, năng lực đối với mỗi chức danh cán bộ chủ chốt HTX; tránh tình trạng người được đào tạo thì không được sử dụng và ngược lại.
5. Tăng cường liên doanh, liên kết giữa các HTX với các doanh nghiệp; thực hiện lồng ghép các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn với mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế hợp tác
HTX cần phát huy vai trò cầu nối kinh tế hộ với các doanh nghiệp và thị trường; tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời, giúp các doanh nghiệp mở rộng phạm vi hoạt động phục vụ hộ nông dân trên cơ sở hai bên cùng có lợi theo hình thức liên kết, liên doanh, đại lý, uỷ thác cung ứng vật tư sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới, cung cấp thông tin và bao tiêu sản phẩm. Các công ty thuỷ nông, Trung tâm khuyến nông, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Thú y giúp các HTX bồi dưỡng, tập huấn kỹ thuật và hướng dẫn HTX tổ chức dịch vụ lĩnh vực mình đảm nhiệm đạt hiệu quả cao; tạo điều kiện để HTX tham gia các chương trình, dự án khuyến nông, khuyến công.
6. Tập trung chỉ đạo giải quyết những tồn tại của HTX sau chuyển đổi
Đây là biện pháp nhằm phát huy nội lực của HTX, nội dung cần chấn chỉnh là:
- Xác định tư cách xã viên HTX: hạn chế tình trạng xã viên HTX cũ đương nhiên là xã viên HTX mới. Việc xác định lại tư cách xã viên trong HTX phải theo quy định của Luật Hợp tác xã. Xã viên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và các quyền theo quy định của Điều lệ HTX.
- Làm lành mạnh tài chính trong HTX; cụ thể là:
+ Xử lý công nợ trong HTX: Đối với các khoản HTX nợ doanh nghiệp Nhà nước, tiếp tục được xử lý theo Quyết định 146/QĐ-CP của Chính phủ. Đối với các khoản HTX nợ xã viên để xây dựng cơ sở hạ tầng hoặc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của HTX cần kiểm kê chính xác các khoản nợ và xây dựng phương án xử lý để Đại hội xã viên bàn bạc và quyết định.
Đối với các khoản xã viên nợ HTX trước khi chuyển đổi, HTX cần tiến hành kiểm kê và thông báo cho xã viên đăng ký trả nợ. Đối với những khoản nợ khó đòi, HTX lập phương án xử lý cụ thể, trình Đại hội xã viên bàn bạc, quyết định.
+ Làm rõ quan hệ sở hữu tài sản trong HTX. Các HTX cần kiểm kê lại tài sản HTX đang quản lý, sử dụng cả hiện vật và giá trị. Đồng thời làm rõ tài sản nào thuộc sở hữu tập thể, tài sản nào thuộc sở hữu cá nhân xã viên, tài sản nào thuộc sở hữu của chính quyền (thôn, xã), tài sản nào thuộc tài sản đồng sở hữu (vừa của tập thể, cá nhân và cộng đồng); tài sản nào của HTX thuộc tài sản không chia. Trên cơ sở quy định của Luật HTX năm 1997 và Luật HTX năm 2003, HTX điều chỉnh lại vốn góp xã viên từ việc phân bổ giá trị tài sản hợp tác cũ chuyển sang.
Giải quyết các vấn đề nêu trên là hết sức phức tạp vì các tồn tại do lịch sử để lại khi chuyển đổi không xử lý, giải quyết rõ ràng và để tiếp tục kéo dài. Vì vậy, đòi hỏi có sự quyết tâm, nỗ lực phối hợp và tập trung chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể hướng dẫn, giúp đỡ HTX.
7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò các đoàn thể nhân dân đối với phát triển kinh tế tập thể
Các cấp uỷ và tổ chức Đảng cần tăng cường vai trò lãnh đạo đối với phát triển kinh tế tập thể. Cấp uỷ Đảng cơ sở tổ chức tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, quán triệt Nghị quyết của Đảng tới tất cả cán bộ, đảng viên thực hiện Luật HTX và các chính sách của Nhà nước đối với HTXNN như quy định trong Quy định số 164-QĐ/TW ngày 14/4/2006 của Ban chấp hành Trung ương về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong hợp tác xã. Đảng viên phải gương mẫu chấp hành, làm nòng cốt vận động nông dân tham gia HTX, thực hiện Nghị quyết, Quyết định của Đại hội xã viên. Cấp uỷ Đảng cơ sở cần có kế hoạch đào tạo đảng viên trẻ thông qua việc cử đi học tập trung về quản lý HTX để tham gia ứng cử bộ máy quản lý HTX, nhất là các chức danh chủ chốt.
Các đoàn thể nhân dân làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tập thể; vận động quần chúng tự nguyện tham gia Tổ hợp tác và HTX; phát huy vai trò làm chủ, cùng HTX giải quyết những tồn tại, khó khăn, thúc đẩy HTX phát triển.
8. Kiến nghị các giải pháp hỗ trợ tháo gỡ khó khăn vướng mắc của các HTX
8.1 Đưa nội dung hỗ trợ phát triển HTX nông nghiệp vào thực hiện trong khung khổ chương trình hỗ trợ có mục tiêu về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp
Để thực hiện các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp theo quy định trong Nghị định 88/2005/NĐ-CP và Quyết định 272/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cần thiết phải bố trí nguồn lực để triển khai các hoạt động, dự án cụ thể trong khung khổ một chương trình hỗ trợ có mục tiêu về phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp đảm bảo đủ nguồn lực để khuyến khích phát triển kinh tế tập thể.
8.2 Tháo gỡ các khó khăn về cơ chế chính sách liên quan đến HTX
a. Về giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX
UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương hướng dẫn về giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX nông nghiệp trong đó nêu rõ các thủ tục, các loại giấy tờ cần thiết và quy định thời hạn xét duyệt áp dụng cho từng loại đất cụ thể mà HTX đang quản lý sử dụng đồng thời các địa phương cần căn cứ vào quỹ đất của mình để giao đất cho các HTX, hướng dẫn thủ tục xin cấp, thuê đất mới để làm trụ sở và các cơ sở nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh của HTX. Tiến hành đo đạc xác định các loại đất HTX đang quản lý sử dụng. Các tỉnh cần có kế hoạch và lộ trình cụ thể về đo đạc, giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các HTX nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2015 có thể hoàn thành việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các HTX nông nghiệp. Đề nghị các tỉnh xem xét các giải pháp hỗ trợ cho các HTX nông nghiệp của địa phương hiện chưa có trụ sở làm việc riêng.
b. Chính sách thuế
Bộ Tài chính cần có hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với HTX nông nghiệp như quy định tại Nghị định 88 và Nghị định 164 theo hướng để những dịch vụ như: dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân, …. không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trên thực tế chênh lệch giữa thu của xã viên và chi phí của HTX đối với những dịch vụ này không thể coi là lãi của HTX mà chỉ là khoản tiết kiệm chi không hết của xã viên và phải để xã viên quyết định xử lý, Nhà nước không nên đánh thuế vào khoản tiết kiệm chi này của HTX. Đề nghị nghiên cứu giải quyết bất cập về thuế VAT đối với dịch vụ tiêu thụ nông sản của HTX nông nghiệp theo hướng tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh giữa thương lái và HTX trong việc tiêu thụ nông sản cho nông dân. Không thể để thương lái thì thực hiện thuế khoán mà HTX phải đầy đủ chứng từ mua bán.
c. Về tài chính tín dụng
- Về hướng dẫn dịch vụ tín dụng nội bộ của các HTX: Cần nhất quán chủ trương khuyến khích và hỗ trợ các HTX nông nghiệp phát triển dịch vụ tín dụng nội bộ trong thời gian tới. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu sửa đổi bổ xung Thông tư 06/2004/TT-NHNN và Thông tư 04/2007/TT-NHNN theo hướng cho phép các HTX mở rộng giới hạn huy động tiền tiết kiệm nhàn rỗi của xã viên thay vì bằng 30% vốn điều lệ bằng tiền lên gấp 2 lần vốn điều lệ của HTX nông nghiệp. Không hạn chế việc HTX sử dụng nguồn vốn tự có của HTX cho dịch vụ tín dụng nội bộ.
- Chính sách tín dụng đối với các HTX nông nghiệp: Để nâng cao ý nghĩa thực tế của chính sách hỗ trợ HTX nông nghiệp vay vốn, đề nghị cơ quan chức năng nghiên cứu bổ sung các hướng dẫn, quy định để có nhiều HTX nông nghiệp có nhu cầu có thể được vay vốn, giảm bớt tình trạng cán bộ HTX phải dùng tài sản riêng của gia đình để thế chấp vay vốn cho HTX.
- Về xoá nợ tồn đọng cũ của HTX nông nghiệp: Trong 5 năm qua kể từ khi có Quyết định 146/QĐ-CP, các khoản nợ có đầy đủ hồ sơ để xoá nợ theo quy định của Quyết định 146 thì các địa phương đã cơ bản thực hiện xong. Để có thể làm thủ tục xoá các khoản nợ đọng còn lại, đề nghị nghiên cứu bổ xung các quy định của Quyết định 146/QĐ-CP mới có thể thực hiện được triệt để mục tiêu xoá hoàn toàn số nợ tồn đọng cũ của các HTX nông nghiệp.
d. Chính sách bảo hiểm xã hội cho cán bộ HTX
Đề nghị xem xét bổ xung hướng dẫn về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho cán bộ các HTX nông nghiệp theo hướng tạo điều kiện cho các cán bộ HTX được truy mua bảo hiểm cho thời gian làm việc trong HTX từ khi Luật hợp tác xã có hiệu lực (năm 1997). Đề nghị ngành bảo hiểm có hướng dẫn chung cho các HTX về mua bảo hiểm xã hội.
e. Chính sách bàn giao công trình điện của HTX nông nghiệp cho ngành điện quản lý
Đề nghị cần tôn trọng tính tự nguyện của HTX trong việc bàn giao công trình điện cho các công ty điện quản lý, UBND các cấp không ra các văn bản hành chính yêu cầu các HTX phải thực hiện việc bàn giao này. Định hướng chung của Nhà nước là sẽ xây dựng thị trường cung cấp điện cạnh tranh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, việc HTX nông nghiệp tham gia dịch vụ cung ứng điện và vẫn đang làm tốt dịch vụ điện cho xã viên và cộng đồng không mâu thuẫn với định hướng chung của Nhà nước về lĩnh vực này.
8.3 Thực hiện chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX nông nghiệp ở các địa phương
Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố:
- Củng cố hoạt động của Ban chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể.
- Chỉ đạo các cơ quan liên quan trong tỉnh, tuỳ chức năng nhiệm vụ của mình có những hoạt động cụ thể để hỗ trợ các HTX nông nghiệp của địa phương. Chú trọng tổ chức thực hiện các chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX; đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ HTX và các hoạt động thông tin tuyên truyền về HTX; hướng dẫn bảo hiểm xã hội; lồng ghép các chương trình, dự án …..Chỉ đạo cụ thể các chương trình liên quan của tỉnh để tham gia hỗ trợ HTX (khuyến nông, khuyến công; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; ....).
- Xác định rõ và phân nhiệm cụ thể giữa cơ quan quản lý nhà nước về HTX và các cơ quan khác. Giao đúng chức năng nhiệm vụ cho mỗi cơ quan tránh việc có nhiệm vụ thì nhiều cơ quan làm, có việc thì đùn đẩy nhau, … Cần quy định rõ việc Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan chủ trì thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế hợp tác trong nông, lâm, ngư và diêm nghiệp của địa phương.
- Làm rõ tài sản UBND xã, HTX, chuyển giao các tài sản phục vụ sản xuất (công trình thuỷ lợi, điện, …) do UBND xã quản lý cho các HTX. Không thu khấu hao cũng như bất cứ khoản thu nào từ HTX liên quan đến các tài sản này về ngân sách xã mà chỉ giám sát việc bảo tồn, phát triển các tài sản có tính cộng đồng này.
- Thường xuyên tổ chức các diễn đàn lắng nghe các khó khăn vướng mắc của các HTX nông nghiệp và bàn các giải pháp tháo gỡ.
- Tăng cường bố trí cán bộ theo dõi về phát triển kinh tế tập thể, nhất là đối với cấp huyện như quy định tại Quyết định 272 của Thủ tướng Chính phủ; bố trí kinh phí cho Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện các chức năng nhà nước về kinh tế tập thể.
- Chỉ đạo xử lý dứt điểm các HTX chưa chuyển đổi và khắc phục tính hình thức trong việc kết nạp xã viên ở các HTX.
Trên đây là Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (Khoá IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp, kiến nghị của Ban Cán sự Đảng-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xin ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư./.
|
|
TM. BAN CÁN SỰ ĐẢNG |
|
Nơi nhận: |
BÍ THƯ |
|
- Ban Bí thư Trung ương Đảng; |
(Đã ký) |
|
- Thủ tướng Chính phủ (để b/c); |
|
|
- Đ/c Trương Tấn Sang, Trưởng Ban chỉ đạo tổng kết (để b/c) |
|
|
- Văn phòng Trung ương Đảng (để b/c); |
|
|
- Văn phòng Chính phủ (để b/c); |
|
|
- Bộ KH&ĐT; |
|
|
- Lưu: VT, HTX. |
Cao Đức Phát |
|
|
|