Từ những vướng mắc…
Báo cáo Tổng kết thi hành Luật Hợp tác xã năm 2003 của Chính phủ cho thấy còn nhiều tồn tại, yếu kém như các hợp tác xã hoạt động với quy mô nhỏ, ít vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, sản phẩm đơn điệu, sức cạnh tranh thị trường kém; nhiều hợp tác xã hoạt động còn hình thức, kém hiệu quả, lợi nhuận thấp, chưa mang lại nhiều lợi ích cho xã viên; tổ chức hợp tác xã chưa hấp dẫn nhân dân tham gia...
Theo nhận định của các chuyên gia, để khắc phục được những tồn tại trên thì việc làm rõ bản chất tổ chức hợp tác xã là vấn đề hết sức cần thiết, vì điều này sẽ làm thay đổi cơ bản các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của thành viên; quyền, nghĩa vụ của hợp tác xã; tổ chức quản lý và tài chính, tài sản của hợp tác xã… Từ đó, tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động của hợp tác xã, quyết định sự phát triển của mô hình này tại Việt Nam. Thực tế sau 8 năm thi hành, Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa thể hiện rõ bản chất tổ chức hợp tác xã, chưa phân định rạch ròi giữa hợp tác xã và doanh nghiệp...
Về mục đích hoạt động: Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa quy định rõ mục đích hoạt động của hợp tác xã. Cụ thể, tại Điều 1 quy định: Hợp tác xã lập ra… để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trên thực tế, để hợp tác xã thực sự phát triển, thu hút được đông đảo nhân dân, các hộ gia đình, cá nhân tham gia, hợp tác xã không chỉ “cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh” mà phải lấy lợi ích của xã viên làm mục tiêu cao nhất cho hoạt động của mình, sau đó, phải tính đến lợi nhuận, tiếp cận thị trường để hợp tác xã phát triển vững mạnh. Hợp tác xã chính là nơi cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho các xã viên nhưng đồng thời, để bảo đảm sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và phát triển, mở rộng mô hình sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã cần phải hướng đến thị trường, mục tiêu lợi nhuận không nằm ngoài mục tiêu của hợp tác xã.
Có ý kiến cho rằng, nếu hoạt động vì lợi nhuận thì hợp tác xã chẳng khác nào một doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ hoạt động để cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho nội bộ xã viên, nhất là đối với những hợp tác xã cung ứng dịch vụ xây dựng, vận tải… thì vô hình trung, hợp tác xã đã tự cô lập mình trong nền kinh tế thị trường, do đó hợp tác xã không thể tồn tại và phát triển.
Về quan hệ sở hữu: Điều 36 Luật Hợp tác xã năm 2003 quy định: “Đối với vốn và tài sản chung của hợp tác xã được hình thành từ các nguồn vốn và công sức của xã viên, quà biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước thì do Đại hội xã viên quyết định… Vốn góp của xã viên bằng giá trị quyền sử dụng đất và đất do Nhà nước giao cho hợp tác xã sử dụng được xử lý theo quy định của pháp luật về đất đai.
Trên thực tế, Đại hội xã viên được quyền chia vốn và tài sản chung của hợp tác xã, đặc biệt đất đai do Nhà nước cấp cho xã viên khi hợp tác xã giải thể. Quy định này đã tạo ra kẽ hở để nhiều tổ chức với bản chất là doanh nghiệp nhưng “núp bóng”, hoạt động dưới danh nghĩa hợp tác xã để hưởng lợi những chính sách ưu đãi của Nhà nước; chưa ngăn ngừa các hành vi mua bán, chuyển nhượng hợp tác xã trên thực tế.
Về quan hệ kinh tế: Khoản 4 Điều 19 Luật Hợp tác xã năm 2003 quy định xã viên có nghĩa vụ “thực hiện các cam kết kinh tế với hợp tác xã”. Quy định này rất chung chung, chưa xác định rõ khái niệm “các cam kết kinh tế với hợp tác xã” là những cam kết nào; do đó quy định này khó thực hiện trên thực tế. Trong khi đó, điểm quan trọng tạo nên sự ràng buộc chặt chẽ giữa các xã viên với hợp tác xã chính là nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã thì Luật Hợp tác xã năm 2003 lại không quy định.
Về quan hệ phân phối: Điều 37 Luật Hợp tác xã năm 2003 quy định: sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế,… chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Quy định này không khuyến khích xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, kết nạp thêm xã viên mới mà khuyến khích xã viên tăng vốn, từ đó dần định hướng tổ chức hợp tác xã chuyển sang tổ chức doanh nghiệp với việc chia lãi chủ yếu theo vốn góp.
Nên có những sửa đổi phù hợp
Nhằm khắc phục những vướng mắc của Luật Hợp tác xã 2003, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác xã phát triển; đáp ứng nhu cầu và lợi ích của xã viên tham gia hợp tác xã; để xây dựng Luật Hợp tác xã (sửa đổi) thực sự đi vào cuộc sống, cần thiết phải làm rõ bản chất của tổ chức hợp tác xã như sau.
Một là, về mục tiêu hoạt động, cần khẳng định hợp tác xã đặt mục tiêu cao nhất là cung ứng sản phẩm, dịch vụ hoặc tạo việc làm/thu nhập cho thành viên. Ngoài ra, để phát triển sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã cần hướng đến mục tiêu lợi nhuận, mở rộng thị trường.
Hai là, về quan hệ sở hữu: quy định về tài sản không chia là cần thiết, để ngăn ngừa các hành vi mua bán, chuyển nhượng hợp tác xã và lợi dụng hợp tác xã để hoạt động sản xuất, kinh doanh như một doanh nghiệp. Tuy nhiên, để bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho các xã viên hợp tác xã, quy định tài sản không chia chỉ nên gồm các tài sản được hình thành từ trợ cấp của Nhà nước và tài sản được cho, tặng.
Ba là, về quan hệ kinh tế: cần quy định cụ thể trong Luật Hợp tác xã (sửa đổi) về nghĩa vụ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của xã viên đối với hợp tác xã. Điều này nhằm tạo nên sự ràng buộc chặt chẽ giữa các thành viên với hợp tác xã, bảo đảm cho tính liên kết được thực hiện.
Bốn là, về quan hệ phân phối: để hợp tác xã thực sự là một tổ chức hỗ trợ, liên kết, giúp đỡ các nhóm yếu thế cùng hoạt động sản xuất, kinh doanh; khuyến khích các xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã; phù hợp với khuyến cáo của Liên minh Hợp tác xã quốc tế, cần quy định phân phối giá trị thặng dư (lợi nhuận) cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ, không theo mức vốn góp.
Phương Thảo
Nguồn: Báo điện tử Đại biểu nhân dân