Phóng viên (PV): Thưa Bộ trưởng, đâu là yếu tố giúp ngành nông nghiệp thành công trong năm 2017?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: 2017 là năm đầy thử thách với ngành nông nghiệp. Thời tiết diễn biến khó lường, bão lũ xảy ra liên tiếp và trên diện rộng. Tổng thiệt hại do thiên tai gây ra năm 2017 ước tới 60.000 tỷ đồng. Cùng với đó, ngành nông nghiệp cũng gặp khó khăn về mặt thị trường. Tuy nhiên, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị cùng sự nỗ lực của từng địa phương, doanh nghiệp và bà con nông dân đã giúp ngành nông nghiệp vượt lên khó khăn, vừa phát triển, vừa đẩy mạnh tái cơ cấu mạnh mẽ, đạt nhiều hiệu quả. Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp vào khoảng 2,9% (gấp hơn 2 lần năm 2016). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt con số kỷ lục 36,37 tỷ USD (mục tiêu đề ra là 32-33 tỷ USD), tăng 4,2 tỷ USD so với năm 2016 (đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay). Chương trình xây dựng nông thôn mới cũng vượt mục tiêu đề ra. Tính đến ngày 31-12-2017 đã có 3.067 xã (tương đương 34%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (kế hoạch là 31%), có 44 huyện đạt huyện nông thôn mới (tăng 14 huyện so với năm 2016). 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường.

Tóm lại, có thể nói 2017 là năm ngành nông nghiệp vượt khó để đi lên, đạt được những kết quả rất đáng tự hào.

PV: Năm qua, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp, nhất là thủy sản liên tiếp vấp phải những rào cản kỹ thuật từ các thị trường như Mỹ, EU. Vậy, thời gian tới, ngành nông nghiệp có những biện pháp gì để giải quyết vấn đề này, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Thời gian tới, với tình hình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, chúng ta phải có những giải pháp rất tổng thể. Một mặt, chúng ta đàm phán với các nước để tháo gỡ rào cản về thị trường. Mặt khác, để giải quyết các rào cản kỹ thuật, chúng ta đã phải quyết liệt tổ chức sản xuất theo chuỗi từ sản xuất nguyên liệu, chế biến, bảo quản đến thương mại, tiêu thụ sản phẩm để vừa cắt giảm chi phí, quản lý được chất lượng sản phẩm và hài hòa được lợi ích của các đối tác trong chuỗi giá trị, bảo đảm lợi ích cho nông dân; khuyến khích bà con nông dân liên kết với doanh nghiệp, tham gia các hợp tác xã (HTX) để hình thành chuỗi sản xuất khép kín, đưa sản phẩm phù hợp với các thị trường. Trên cơ sở đó, đưa khoa học kỹ thuật, công nghệ để giám sát chặt chẽ quy trình, bảo đảm chất lượng sản phẩm. Xin nhắc lại, phải tổ chức ngành hàng thật chặt chẽ, chuỗi giá trị và có kiểm soát từ sản xuất đến lưu thông hàng hóa. Nếu chúng ta làm tốt thì nông sản của chúng ta có thể tiếp tục khai thác hiệu quả các thị trường này.

PV: Thưa Bộ trưởng, lâu nay khâu sản xuất nông nghiệp tốt nhưng chế biến và tìm thị trường vẫn còn yếu. Thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ có những điều chỉnh gì trước vấn đề trên?

Nuôi cá tra ở quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Điều này cũng dễ nhận thấy. Ví dụ, mặt hàng rau quả và trái cây, tổng sản lượng hiện có là 22 triệu tấn/năm, nhưng chúng ta mới chế biến được 9%. Chế biến là khâu yếu, nên phải được tập trung hơn, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ nhiều hơn nữa. Năm 2018, ngành nông nghiệp sẽ tập trung nhiều hơn vào công tác chế biến. Ví như với ngành hàng rau quả, Bộ NN&PTNT cùng các địa phương sẽ tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp sớm khởi công 5-6 nhà máy chế biến rau quả ở 6 vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, tập trung vào những nhà máy lớn, công suất cao và công nghệ hiện đại. Trên cơ sở đó, liên kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu của bà con nông dân, các chủ trang trại, HTX, hình thành vùng sản xuất tập trung gắn chế biến với thị trường.

PV: Lâu nay, lúa gạo luôn được xem là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam. Nhưng dường như với quá trình biến đổi khí hậu, việc chọn sản phẩm chiến lược cũng phải thay đổi, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nguyên tắc đầu tiên là phải tuân thủ theo mệnh lệnh của thị trường. Thế giới có hơn 7 tỷ người, trong đó 3,5 tỷ người ăn gạo, thế nhưng thương mại toàn cầu về gạo trung bình của thế giới chỉ khoảng 35-36 tỷ USD/năm. Trong khi đó, giá trị riêng về trái cây giao dịch thương mại toàn cầu khoảng 240 tỷ USD/năm, dự báo trong vòng 5 năm nữa, tốc độ tăng trưởng trung bình của mặt hàng này là 2-3%, như vậy là gấp 8-9 lần lúa gạo.

Để hiện thực hóa cơ cấu lại ngành, phải lựa chọn những đối tượng sản xuất phù hợp nhằm khai thác lợi thế, góp phần hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trong hội nhập. Đây chính là nguyên lý “thuận thiên” mà Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra tại hội nghị về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu vào tháng 9-2017. Như vậy, vùng ĐBSCL trước đây sản xuất theo thứ tự ưu tiên là: Lúa gạo-thủy sản-trái cây thì nay nhóm lợi thế chủ lực sẽ là: Thủy sản-trái cây-lúa gạo. Chúng ta đang từng bước khai thác hướng chuyển đổi này và bước đầu đã có kết quả trên thực tế ở các tỉnh vùng ĐBSCL.

Vừa qua, ngành nông nghiệp đã phối hợp với các địa phương, các bộ, ngành tổ chức một số hội nghị chuyên đề bàn giải pháp cụ thể. Thời gian tới, Bộ NN&PTNT tiếp tục tổ chức các hội nghị chuyên đề lắng nghe ý kiến đóng góp làm cơ sở trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có chủ trương, chính sách cụ thể.

PV: Thưa Bộ trưởng, trong năm 2018, ngành nông nghiệp sẽ làm gì để hoàn thành tốt mục tiêu, kế hoạch đề ra?

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Năm 2018 và những năm tới, ngành nông nghiệp phải tiếp tục thực hiện mạnh mẽ để tạo chuyển biến tích cực cả về tiến độ, chất lượng của hai chương trình lớn là cơ cấu lại nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Về cơ cấu lại nông nghiệp, sẽ xây dựng bằng được 3 phân tầng sản phẩm: Nhóm chủ lực quốc gia, nhóm chủ lực địa phương và nhóm đặc sản làng/xã theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Theo đó, sẽ tập trung vào những mặt hàng có thế mạnh, có giá trị kinh tế, có dư địa phát triển, đặc biệt để thành công, chúng ta phải tăng cường năng lực dự báo cung cầu thị trường; định hướng sản xuất theo tín hiệu thị trường cùng với việc đẩy mạnh khuyến khích, hỗ trợ tập trung xây dựng chuỗi giá trị.

Thu hoạch chôm chôm ở tỉnh Vĩnh Long.

Đối với những mặt hàng quốc gia mang tính chất lợi thế, chúng ta phải tập trung khai thác sâu, những khâu yếu thì phải tập trung khắc phục. Ví dụ, nhiều tỉnh như Bắc Giang, Lâm Đồng, Đồng Tháp hay Hà Giang… đã tìm ra lợi thế của mình để đi vào khai thác. Gần đây nhất là bài học kinh nghiệm của Sơn La, một tỉnh rất điển hình về chuyển đổi nhanh từ cây ngô giá trị thấp sang cây ăn quả, thành lập nhà máy chế biến, chuỗi xuất khẩu ở đấy rất tốt. Cùng với đó, phải chú ý đến sản phẩm nông nghiệp của vùng, miền mang tính chất "mỗi làng một sản phẩm". Ngoài ra, cơ cấu lại nông nghiệp phải gắn kết chung với cơ cấu lại kinh tế nông thôn và kinh tế cả nước, cụ thể là giữa nông nghiệp với công nghiệp, du lịch, dịch vụ. Có như vậy, nông nghiệp mới phát huy hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững.

PV: Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

Theo QĐND