Doanh nghiệp Việt trước “cánh cửa vàng” Halal: Muốn đi xa phải vượt bài toán niềm tin
Với hơn 2 tỷ người tiêu dùng và quy mô hàng nghìn tỷ USD, thị trường Halal đang trở thành “cánh cửa vàng” cho hàng Việt mở rộng xuất khẩu sang Trung Đông, châu Phi và ASEAN Hồi giáo. Tuy nhiên, sân chơi này không chỉ đòi hỏi chất lượng sản phẩm mà còn yêu cầu doanh nghiệp xây dựng niềm tin bằng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và quản trị minh bạch.
Ngày 15/5, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (VIOIT) phối hợp HTX Hà Nội Xanh tổ chức hội thảo quốc tế “Thị trường Halal - Chìa khóa tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam”.
Sự kiện nằm trong khuôn khổ lễ ra mắt Trung tâm xúc tiến & trải nghiệm HalalViet, quy tụ các cơ quan quản lý, chuyên gia, tổ chức chứng nhận và cộng đồng doanh nghiệp nhằm thảo luận cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng Halal toàn cầu.
Thị trường Halal mở rộng dư địa xuất khẩu
Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định Halal không còn là thị trường ngách dành riêng cho cộng đồng Hồi giáo mà đã phát triển thành hệ sinh thái kinh tế toàn diện, bao gồm thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm, dược phẩm, du lịch, logistics, tài chính và thương mại dịch vụ.
Quy mô thị trường Halal toàn cầu năm 2025 ước đạt khoảng 2,7-3,3 nghìn tỷ USD và dự báo có thể đạt 6-9,5 nghìn tỷ USD vào năm 2034.
Phát biểu tại hội thảo, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) Vũ Bá Phú cho biết động lực tăng trưởng của thị trường này không chỉ đến từ hơn 2 tỷ người Hồi giáo, chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu, mà còn từ xu hướng tiêu dùng chú trọng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Theo ông Phú, Việt Nam có nhiều lợi thế để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng Halal nhờ thế mạnh nông sản, thực phẩm và thủy sản cùng mạng lưới hiệp định thương mại tự do.
Năm 2025, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) đạt khoảng 24,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 10,9 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm Halal hiện mới khoảng 700 triệu USD, tương đương khoảng 2% tiềm năng dự kiến có thể đạt tới 34 tỷ USD.
Dù dư địa lớn, các diễn giả cho rằng doanh nghiệp Việt vẫn đối mặt nhiều rào cản. Nhiều doanh nghiệp vẫn coi Halal chỉ là “giấy chứng nhận kỹ thuật”, trong khi thực tế đây là hệ thống tiêu chuẩn quản lý toàn diện cho toàn bộ chuỗi sản xuất, từ nguyên liệu, chế biến, kho bãi, logistics đến phân phối.
Ông nhấn mạnh việc đạt chứng nhận Halal đòi hỏi doanh nghiệp tái cấu trúc quy trình sản xuất, đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực và xây dựng hệ thống quản trị minh bạch.
Những doanh nghiệp tiếp cận Halal theo hướng chiến lược đã ghi nhận kết quả tích cực. Chẳng hạn, F&G Việt Nam sau khi đạt chứng nhận Halal từ năm 2018 đã xây dựng được tệp khách hàng ổn định, trong khi Vinamilk hiện có doanh thu xuất khẩu lớn từ khu vực Trung Đông.
Ngoài vấn đề nhận thức, hệ thống chứng nhận Halal của Việt Nam hiện chưa có các thỏa thuận công nhận lẫn nhau với các tổ chức uy tín như JAKIM của Malaysia, BPJPH của Indonesia hay ESMA của UAE. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp dù đã có chứng nhận trong nước vẫn phải xin thêm chứng nhận quốc tế, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian tiếp cận thị trường.
Đồng tình với ông Phú, TS. Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho rằng Halal là cơ hội để doanh nghiệp Việt nâng cấp toàn bộ mô hình sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế.
Theo ông Tuấn, điểm cốt lõi của thị trường Halal là “tuân thủ có thể kiểm chứng”, đòi hỏi doanh nghiệp chuyển từ tư duy “bán sản phẩm” sang “bán niềm tin”.
Xây hệ sinh thái Halal cho DN Việt
Ông đánh giá bối cảnh chính sách hiện đã thuận lợi hơn khi Việt Nam ban hành Đề án phát triển ngành Halal đến năm 2030, thành lập HALCERT và triển khai Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế” giai đoạn 2026-2030.
Đặc biệt, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE (CEPA) có hiệu lực từ ngày 3/2/2026 được xem là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Các chuyên gia cũng nhận định UAE có thể trở thành “cửa ngõ chiến lược” cho hàng hóa Việt Nam vào Trung Đông và châu Phi nhờ lợi thế logistics, tài chính và tái xuất. Bên cạnh nông sản, thực phẩm chế biến và thủy sản, nhiều lĩnh vực khác như du lịch Halal, logistics Halal và công nghệ truy xuất nguồn gốc cũng được đánh giá giàu tiềm năng.
Để tận dụng cơ hội, các đại biểu đề xuất Việt Nam sớm hoàn thiện chiến lược Halal quốc gia, thúc đẩy công nhận quốc tế đối với hệ thống chứng nhận trong nước, phát triển logistics chuyên biệt, xây dựng thương hiệu “Halal Vietnam” và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp chuỗi cung ứng theo tiêu chuẩn Halal toàn diện.
Giám đốc HTX Hà Nội Xanh Bá Thị Nguyệt Thu chia sẻ về những rào cản mà doanh nghiệp Việt vẫn đang gặp phải.Bên cạnh các nội dung về cơ hội mở rộng xuất khẩu và phát triển hệ sinh thái Halal, nhiều ý kiến tại hội thảo cũng chỉ ra những rào cản mà doanh nghiệp nhỏ, vừa và các HTX đang gặp phải khi tiếp cận thị trường này. Chia sẻ với VnBusiness, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc HTX Hà Nội Xanh, cho rằng “khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là vấn đề nhận thức”.
Theo bà Thu, nhiều doanh nghiệp vẫn xem chứng nhận Halal như một “tấm vé thông hành”, trong khi giá trị cốt lõi nằm ở việc hiểu và xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu, sản phẩm cũng như chuỗi cung ứng phù hợp với tiêu chuẩn Halal.
“Dù đã có nhiều chương trình đào tạo, tập huấn, song việc đồng hành thực tế cùng doanh nghiệp trong quá trình triển khai vẫn còn hạn chế. Từ thực tế đó, HalalViet được xây dựng theo hướng trở thành nền tảng xúc tiến và kết nối hệ sinh thái Halal dành cho doanh nghiệp Việt Nam.
Tin liên quan
- Hướng thoát nghèo từ trồng ớt theo chuỗi giá trị nông nghiệp
- Saigon Co.op sẽ mở thêm hơn 300 điểm bán
- Hướng tới sự phát triển kinh tế bền vững
- Đẩy mạnh liên kết để tháo gỡ khó khăn cho ngành chăn nuôi
- Trái cây Việt vươn mình ra thế giới
- Phát triển NN: Doanh nghiệp đầu tàu phải dẫn dắt chuỗi liên kết
- Thủ tướng: “Kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải xã hội thị trường“
- Thành phố Hồ Chí Minh tìm giải pháp phát triển kinh tế tập thể nông nghiệp
- Thanh Hóa: Kinh tế tập thể - hướng thoát nghèo bền vững cho hội viên, phụ nữ đặc biệt khó khăn
- Bền vững sản xuất lúa - tôm


