‘Ván cờ’ thuế 150 ngày của Mỹ: Doanh nghiệp Việt xoay chuyển chiến lược ra sao?

Mỹ dừng một số thuế đối ứng nhưng áp mức thuế nhập khẩu 15% theo Mục 122 trong tối đa 150 ngày, tạo ra giai đoạn “đệm” đầy biến động cho các doanh nghiệp.

Với Việt Nam, đây vừa là áp lực khi xuất khẩu sang Mỹ chiếm hơn 32% kim ngạch, vừa là cơ hội tái cấu trúc thị trường và nâng sức chống chịu.

Thông điệp mới từ Washington không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật, mà đặt ra bài toán về chiến lược thị trường, kiểm soát chi phí và năng lực chống chịu. Vấn đề không nằm ở thuế tăng hay giảm, mà ở khả năng thích ứng và tái cấu trúc để đi đường dài.

Bức tranh thuế quan nhiều lớp

Ngày 23/2 (giờ Mỹ), Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ phát đi thông báo qua hệ thống CSMS tới các đơn vị vận chuyển hàng hóa về việc ngừng thu các khoản thuế đối ứng áp dụng theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế khẩn cấp quốc tế kể từ 0 giờ 1 phút ngày 24/2. Quyết định này được đưa ra hơn ba ngày sau khi Tòa án Tối cao Mỹ tuyên các khoản thuế nói trên là trái pháp luật.

Doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh chiến lược trong 150 ngày “đệm” chính sách.
Doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh chiến lược trong 150 ngày “đệm” chính sách.

Tuy nhiên, bức tranh không đơn giản chỉ là “giảm thuế”. Cùng thời điểm đó, Tổng thống Donald Trump áp dụng mức thuế nhập khẩu 15% theo một thẩm quyền pháp lý khác - Mục 122. Biện pháp này có hiệu lực từ 24/2 và có thể kéo dài tối đa 150 ngày.

Sự thay đổi đột ngột giữa các công cụ pháp lý cho thấy chính sách thương mại của Mỹ đang vận hành linh hoạt, thậm chí quyết liệt hơn. Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế thuộc ING Group (Hà Lan), trạng thái bất ổn đã quay trở lại và nguy cơ leo thang căng thẳng thương mại hiện còn cao hơn một năm trước, trong bối cảnh các nhà lãnh đạo châu Âu cũng gia tăng những động thái cứng rắn.

Với Việt Nam, tác động mang tính hai mặt. Chuyên gia phân tích cấp cao tại Công ty CP Đầu tư FinSuccess ước tính, sau phán quyết của Tòa Tối cao Mỹ, mức thuế trung bình áp lên hàng hóa Việt Nam còn khoảng 18% - 20%, thay vì 23% - 25% như trước. Như vậy, doanh nghiệp trong nước “nhẹ gánh” khoảng 4% thuế suất và có thêm 150 ngày để chuẩn bị kịch bản ứng phó.

Đáng chú ý, cấu trúc thuế mới đang tái định vị tương quan giữa các đối tác thương mại của Mỹ. Những quốc gia từng chịu thuế đối ứng cao như Việt Nam, Brazil hay Trung Quốc được đưa về mức sàn 15%. Trong khi đó, các đối tác vốn có thuế suất thấp như EU, Anh hay Singapore lại đối diện nguy cơ tăng thuế đáng kể.

Riêng Trung Quốc và Brazil vẫn chịu thêm thuế theo Mục 301, khiến tổng thuế suất xuất khẩu sang Mỹ của Trung Quốc hiện ở khoảng 35%. Điều này phần nào duy trì lợi thế tương đối cho Việt Nam trong một số nhóm hàng, song lợi thế đó không còn quá rõ rệt như giai đoạn trước.

Dù không nhận tiền hoàn thuế, doanh nghiệp Việt vẫn có thể gián tiếp hưởng lợi. Khi đối tác Mỹ được hoàn lại một khoản đáng kể, họ có dư địa để tăng đơn hàng hoặc điều chỉnh giá bán cạnh tranh hơn. Trong bối cảnh nhiều mặt hàng của Việt Nam đang chịu thuế khoảng 20%, nếu mức thuế thực tế giảm về 10% - 15% theo các đề xuất gần đây, đây vẫn là tín hiệu tích cực cho xuất khẩu.

Thặng dư lớn, áp lực lớn?

Thách thức lớn nhất không nằm ở con số 15% hay 20%, mà ở độ mở của nền kinh tế. Mỹ hiện chiếm hơn 32% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, bất chấp rào cản thuế gia tăng, xuất khẩu sang thị trường này vẫn lập kỷ lục hơn 153 tỷ USD.

Song, đằng sau con số ấn tượng đó là những cảnh báo về tính bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu thời gian qua phần lớn được thúc đẩy bởi khu vực FDI và hiện tượng chuyển tải hàng hóa nhằm tránh thuế. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ năm 2025 tăng 44%, lên 178,2 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thặng dư lớn thứ ba với Mỹ.

Ở góc nhìn chính sách, mức thặng dư lớn là một “điểm đỏ” dễ bị soi xét. Khi Mỹ gia tăng xu hướng bảo hộ, những nền kinh tế có thặng dư cao có thể trở thành mục tiêu của các biện pháp điều chỉnh thương mại trong tương lai.

Việc áp thuế 15% toàn cầu theo Mục 122 cho thấy Washington sẵn sàng sử dụng các công cụ linh hoạt để điều tiết cán cân thương mại. Tính ngắn hạn, tối đa 150 ngày tạo ra khoảng đệm, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng sự khó lường trong môi trường kinh doanh.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp Việt không thể chỉ trông chờ vào biến động chính sách bên ngoài. Chiến lược chủ động cần đặt trọng tâm vào tiết giảm chi phí sản xuất, tối ưu hóa giá thành và chấp nhận biên lợi nhuận hợp lý để duy trì thị phần.

Cùng với đó, đa dạng hóa thị trường là yêu cầu cấp thiết. Những doanh nghiệp tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do, mở rộng sang EU, Anh, Canada hay các thị trường mới nổi sẽ giảm phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ. Khi cấu trúc thị trường cân bằng hơn, sức chống chịu trước cú sốc thuế quan cũng cao hơn.

Yếu tố địa chính trị cũng đang mang lại lợi thế nhất định cho Việt Nam. Trong mắt nhiều nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam vẫn là điểm đến ổn định trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là nền tảng để thu hút dòng vốn chất lượng cao, chuyển từ gia công sang sản xuất có giá trị gia tăng lớn hơn.

Chuyến công tác tại Mỹ từ ngày 18 đến 20/2 của Tổng Bí thư Tô Lâm được kỳ vọng tạo thêm động lực cho quan hệ thương mại song phương. Khi xuất khẩu sang Mỹ duy trì tăng trưởng, hiệu ứng lan tỏa có thể hỗ trợ việc thâm nhập các thị trường khác nhờ uy tín và quy mô sản xuất được nâng lên.

“Trong nguy có cơ” không phải là khẩu hiệu lạc quan, mà là yêu cầu thực tế. Khi thuế quan trở thành biến số khó đoán, mỗi doanh nghiệp cần tự xây dựng “vùng đệm” cho mình bằng cấu trúc chi phí linh hoạt, thị trường đa dạng và mối liên kết bền chặt với khách hàng. Chỉ khi đó, những cơn sóng chính sách từ bên kia Thái Bình Dương mới không còn là cú sốc, mà trở thành chất xúc tác cho một chu kỳ tăng trưởng chất lượng hơn.

Tiến Anh - Tạp chí Kinh doanh


Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Đinh Hồng Thái - Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam

Giấy phép số: 175/GP-TTDT ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Cục Phát thanh truyền hình và TTĐT thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.

Ghi rõ nguồn: "vca.org.vn" khi phát hành thông tin từ trang này.

Copyright 2013 vca.org.vn - Technology Supported by ECPVietnam