"Từ những kinh nghiệm trước đây, trong thời gian tới khi xây dựng cơ chế chính sách, NHNN sẽ tính toán đến các mục tiêu nhưng quan trọng nhất vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát", ông Nguyễn Tuấn Anh chia sẻ.
Thận trọng để tránh các hệ luỵ
Quốc hội và Chính phủ đã áp dụng nhiều chính sách cứu trợ doanh nghiệp nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn than không đủ, chưa tiếp cận được nguồn vốn rẻ. Giới chuyên gia kinh tế kỳ vọng: Gói "cấp cứu" bù lãi suất lần này phải tạo được dấu ấn riêng, tăng thêm quy mô hơn nữa với các thủ tục triển khai thuận lợi nhanh chóng để cứu doanh nghiệp, tạo sức bật cho nền kinh tế phục hồi rõ rệt.
Đề cập tới việc thị trường sắp có hơn 100.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi được “bơm” ra nền kinh tế, TS Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia cho rằng: Việt Nam cần phải thiết kế gói hỗ trợ với quy chế đặc biệt để không phải sửa Luật Tổ chức tín dụng nhưng thận trọng để tránh những hậu quả ảnh hưởng tới nền kinh tế, phải có giới hạn các “chốt” để kiểm soát lạm phát, giữ được ổn định vĩ mô.
Theo TS Lê Xuân Nghĩa, năm 2009 - trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, Việt Nam từng có gói hỗ trợ lãi suất tương tự (1 tỷ USD) với lãi suất hỗ trợ 4%/năm để hỗ trợ cho vay các dự án và chương trình đầu tư. “Tuy nhiên, những ‘chốt’ về vĩ mô và vi mô không lường trước nên hệ lụy của gói hỗ trợ đã để lại tương đối lớn. Lạm phát tăng mạnh, làm xói mòn tăng trưởng kinh tế", ông Lê Xuân Nghĩa cho biết.
Trong khi đó, mức tăng trưởng GDP không có dấu ấn nhiều. Nếu như năm 2009, GDP Việt Nam là 5,3%/năm, năm 2010 nhích lên 6,78%/năm thì năm 2011 lại giảm xuống 5,89%. Tăng trưởng tín dụng được nới lỏng quá mức. Năm 2009, tăng trưởng tín dụng tăng “phi mã” lên tới 37,3%; năm 2010, tăng trưởng tín dụng là 27%. Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dùng, lạm phát năm 2009 và 2010 chỉ ở mức 6,88%/năm; 9,19%/năm nhưng sang năm 2011 lại “phi mã” lên tới 18,58%/năm.
Để tránh những hậu quả về vĩ mô và vi mô không đáng có, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa lưu ý: "Cơ quan quản lý phải giới hạn các “chốt”, đó là: Giữ mức tăng trưởng tín dụng hợp lý, không đẩy lên quá cao; kiềm chế tốc độ lạm phát; duy trì mức tăng hợp lý của tỷ giá hối đoái; phải chấp nhận nợ xấu nhưng ở mức độ nào, làm thế nào để ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng?".
Một số chuyên gia “hiến kế”: Việt Nam có thể dùng chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương tạo hiệu ứng giảm mặt bằng lãi suất chung. Ví dụ, ngân hàng giảm lãi suất 1%/năm, cộng với gói kích thích lãi suất có lãi suất khoảng 2 - 3%/năm để tạo hiệu ứng giảm lãi suất cho các doanh nghiệp. Phía Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếu hoặc vay ngân hàng Trung ương.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, năm 2009, Việt Nam sử dụng 1 tỷ USD, tương đương 17.000 tỷ đồng để cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp. Nguồn tiền lấy từ Quỹ dự trữ ngoại hối nhưng đến nay, ngân hàng vẫn chưa được quyết toán hết. Đó là sự vướng mắc. “Mặc dù chính sách cấp bù lãi suất có hiệu ứng nhất định nhưng hậu quả để lại không hề nhỏ. Thanh khoản hệ thống ngân hàng gặp vấn đề lớn, nợ xấu liên tục tăng cao. Chính phủ phải thành lập công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng để giải quyết hệ quả. Gói hỗ trợ lãi suất lần này cần phải tính toán cẩn trọng trên mọi phương diện”, ông Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh.
Mong bơm vốn khẩn
Rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động “thoi thóp”, thậm chí phá sản khi đại dịch kéo dài. Vì vậy nhiều ý kiến cho rằng: Nếu doanh nghiệp được tiếp cận nguồn tín dụng lãi suất thấp sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, tái đầu tư sản xuất kinh doanh.
“Ngành Ngân hàng cần tính toán để có thể cho được nhiều doanh nghiệp vay vốn ưu đãi; ngân hàng cần mở rộng hơn nữa đối tượng vay từ đó, mới phát huy được hết ý nghĩa của việc NSNN cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp thông qua tổ chức trung gian là ngân hàng”, ông Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (Vinasme) kiến nghị. Theo quy định của ngân hàng, doanh nghiệp được vay vốn với tài sản đảm bảo là hình thức tín chấp nhưng hiện rất ít ngân hàng chưa mạnh dạn cho vay. Tỷ lệ doanh nghiệp được vay tín chấp rất thấp, đặc biệt các khoản vay mới.