Thái Bình:

Hỗ trợ xây dựng mô hình HTX, LHHTX kiểu mới sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực

Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã là đường lối chiến lược nhất quán trong mọi giai đoạn cách mạng, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm. Đặc biệt Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa IX tại Hội nghị Trung ương 5 đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002; Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 56-KL/TW ngày 21 tháng 02 năm 2013, Kết luận số 70 -KL/TW ngày 09 tháng 03 năm 2020.

Việc thể chế hóa các quan điểm, đường lối phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã của Đảng, hệ thống quy phạm pháp luật về hợp tác xã từng bước được hoàn thiện. Quốc hội đã ban hành Luật Hợp tác xã năm 1996, 2003 và 2012, cùng với các Nghị định của Chính phủ, Thông tư và các văn bản pháp luật có liên quan của các Bộ, ngành đã tạo khung pháp lý nhằm khuyến khích kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển

 Thực trạng phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình 

Tính đến ngày 30/10/2021, toàn tỉnh Thái Bình tổng số hợp tác xã đang hoạt động là: 450 HTX, 01 liên hiệp HTX và 150 THT: trong đó

+ Hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, thủy sản: 340 HTX.

+ Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ: 25 HTX

+ Quỹ tín dụng nhân dân: 85 Quỹ

- Tổng số thành viên của các HTX: 455.526 thành viên.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 23-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW; ban hành và chỉ đạo thực hiện 02 nghị quyết về xây dựng nông thôn mới trong từng giai đoạn; xác định: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại và xây dựng nông thôn mới là hai nhiệm vụ trọng tâm. Các chủ trương của cấp uỷ được thể chế hoá thành đề án, cơ chế, chính sách và chỉ đạo thực hiện của chính quyền; lồng ghép, huy động tổng hợp các nguồn vốn từ ngân sách, đồng thời, phát động phong trào thi đua sâu rộng trong toàn tỉnh, huy động sự đóng góp của toàn xã hội cho xây dựng nông thôn mới. Tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp có tính đột phá như: quy hoạch, dồn điền, đổi thửa, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, cơ giới hoá và tổ chức sản xuất với quy mô lớn.

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Thông tri số 07-TT/TU, ngày 28/02/2008 và Thông tri số 28-TT/TU, ngày 05/3/2013 về việc đẩy mạnh thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT; xây dựng các Đề án để nâng cao hoạt động kinh tế tập thể, các hợp tác xã: Đề án số 29-ĐA/TU ngày 24/5/2002 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Đề án số 26-ĐA/TU ngày 08/4/2002 về đào tạo cán bộ xã, phường, thị trấn có trình độ cao đẳng, đại học; Đề án đẩy mạnh cơ giới hoá trong nông nghiệp giai đoạn 2009-2015; Đề án đầu tư tín dụng ngân hàng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2009-2015; Đề án tăng cường, củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân và ban hành các kết luận chỉ đạo về tăng cường củng cố nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của kinh tế tập thể, các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh

Uỷ ban nhân dân tỉnh đã thể chế hoá các quy định của Luật Hợp tác xã, Nghị định của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của các Bộ chuyên ngành bằng việc nghiên cứu, ban hành và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tập thể tại địa phương: Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Kế hoạch số 61/KH-UBND ngày 18/12/2014 về chuyển đổi các HTX nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2012 giai đoạn 2014-2016 tỉnh Thái Bình; Kế hoạch số 32/KH-UBND ngày 15/6/2015 về phát triển kinh tế tập thể 5 năm 2016-2020 của tỉnh Thái Bình; ban hành Chỉ thị số 04/CT-UBND ngày 24/3/2016 về tăng cường công tác cải cách hành chính; Quyết định số 2684/QĐ-UBND ngày 07/11/2014 công bố thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực thành lập và hoạt động của Liên hiệp HTX, HTX; Quyết định số 1366/QĐ-UBND ngày 02/6/2016 về việc công bố thủ tục hành chính thay thế trong lĩnh vực thành lập và hoạt động của HTX; kế hoạch số 02/KH-UBND ngày 08/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về tổ chức cuộc thi tìm hiểu Luật HTX năm 2012 và các mô hình HTX kiểu mới.

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định 1036/QĐ-UBND ngày 29/4/2016 về việc thành lập Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể tỉnh; Quyết định 1957/QĐ-UBND ngày 13/8/2021 về kiện toàn Ban Chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể; Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Bình ban hành Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 14/7/2017 thông qua Đề án phát triển kinh tế tập thể tỉnh Thái Bình giai đoạn 2017- 2025 và Đề án thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh Thái Bình; Quyết định số 2312/QĐ-UBND ngày 29/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tập thể tỉnh Thái Bình giai đoạn 2017- 2025; Quyết định số 2313/QĐ-UBND ngày 29/8/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh Thái Bình.

Kết quả thực hiện các chính sách của địa phương:

- Chính sách cán bộ và nguồn nhân lực

Tỉnh khuyến khích phát triển các cơ sở dạy nghề; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các HTX và các doanh nghiệp một lần từ 350 - 700 nghìn đồng/học viên. Các sở, ngành, Liên minh HTX tỉnh đã triển khai thực hiện kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực cho cán bộ các HTX, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Số lượng học viên hàng năm từ 1.000 - 1.500 lượt người; tổng kinh phí hàng năm từ 1,0 - 1,5 tỷ đồng, được sử dụng từ các nguồn hỗ trợ của Trung ương và nguồn kinh phí khuyến công, khuyến nông, khuyến thương của tỉnh. Năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt Kế hoạch triển khai thí điểm mô hình đưa cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc có thời hạn tại HTX nông nghiệp; đã có 06 cán bộ trẻ (02 cán bộ có trình độ cao đẳng kế toán, 04 cán bộ trẻ có trình độ đại học chuyên ngành nông nghiệp) về công tác tại 06 HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; các cán bộ trẻ tiếp tục được đưa đi tập huấn đào tạo tại Học viện Nông nghiệp Hà Nội hiện nay bắt nhịp khá tốt với công việc của HTX.

- Chính sách tài chính tín dụng

Thực hiện chính sách của Nhà nước, tỉnh đã tạo điều kiện cho KTTT, HTX tiếp cận và hưởng các ưu đãi về đầu tư, nguồn vốn, quỹ quốc gia giải quyết việc làm, cơ chế chính sách mới về khoanh nợ, xóa nợ, gia hạn nợ, miễn giảm lãi vay,... góp phần giải quyết khó khăn về vốn, giảm chi phí vốn vay, phát triển sản xuất, thúc đẩy kinh tế tập thể phát triển.

Việc giải quyết nợ tồn đọng của các HTX nông nghiệp từ năm 1996 trở về trước theo Quyết định số 146/2001/QĐ-TTg, ngày 02/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 31/2002/TT-BTC, ngày 29/3/2002 của Bộ Tài chính về hướng dẫn triển khai thực hiện xử lý tồn đọng của HTX nông nghiệp đã giúp HTX giải quyết khó khăn về tài chính và công nợ HTX. Hầu hết các HTX đã giải quyết được dứt điểm tình hình nợ đọng kéo dài những năm trước đây.

Để hỗ trợ các QTDND trong tỉnh khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; năm 2010 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - chi nhánh tỉnh Thái Bình đã xây dựng Đề án tăng cường củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 - 2015; Đề án đã được HĐND tỉnh, UBND tỉnh thông qua và đã được triển khai thực hiện. Giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện Đề án các QTDND đã được ngân sách tỉnh hỗ trợ đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ với tổng số tiền 12.183 triệu đồng.

Chính sách ưu đãi thuế: Trong hai năm 2012 - 2013 đã thực hiện miễn, giảm thuế môn bài cho 36 HTX với tổng số tiền 36 triệu đồng; miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho 26 HTX với tổng số tiền 606,6 triệu đồng. Thực hiện chính sách cấp bù thủy lợi phí theo Nghị định số 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ, từ năm 2008 - 2018, số kinh phí miễn thu thủy lợi phí cấp bổ sung cho các HTX trong tỉnh là 1.418.249 triệu đồng,...

Về chính sách tiếp cận vốn và quỹ hỗ trợ phát triển HTX: Tỉnh đã thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển HTX tỉnh Thái Bình. Hiện nay đang tiếp tục hoàn thiện theo Nghị định số 45/2021/NĐ-CP ngày 02/4/2021 của Chính phủ.

- Chính sách hỗ trợ về khoa học và công nghệ

Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) đã tập trung đầu tư cho các HTX dịch vụ nông nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới và đạt được một số kết quả, cụ thể:

Xây dựng thành công 04 mô hình khảo nghiệm các giống cây trồng và giống thủy hải sản (khảo nghiệm giống lúa lai 3 dòng GS9, nuôi khảo nghiệm cá Trắm đen, mô hình nuôi sò Huyết thương phẩm, mô hình sản xuất giống lúa BC15 và TBR45).

Thông qua các dự án KH&CN cấp tỉnh, cấp bộ có hỗ trợ một phần vốn sự nghiệp KH&CN cho HTX tiếp nhận công nghệ, mua sắm vật tư nông nghiệp: Đã chuyển giao được công nghệ làm mạ khay và cấy máy cho 08 HTX dịch vụ nông nghiệp; chuyển giao được công nghệ trồng dưa Kim cô nương, Kim hoàng hậu, hoa Ly, hoa Phong lan, chuối Tiêu hồng và các giống cà chua mới theo hướng công nghệ cao cho các HTX nông nghiệp; triển khai thành công dự án xây dựng mô hình trồng một số cây rau màu có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu; đã xây dựng được mô hình nhân giống khoai tây nguyên chủng; xây dựng nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm mắm cáy Hồng Tiến. Tỉnh đã hỗ trợ từ nguồn vốn phát triển khoa học công nghệ cho 125 HTX với tổng kinh phí hỗ trợ 2.350 triệu đồng về nghiên cứu khoa học đưa các giống cây giống con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất nông nghiệp.

Đã triển khai xây dựng 53 mô hình trình diễn chuyển giao khoa học công nghệ, giống mới, quy trình canh tác tiên tiến, thực hiện khảo nghiệm trên 1.200 giống lúa, giống cây màu có giá trị kinh tế cao trên các vùng sinh thái khác nhau; một số HTX được tham gia dự án thực hiện chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ, nhất là các đề tài, dự án thử nghiệm trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng nấm, sản xuất rau an toàn, phát triển nghề thủ công mỹ nghệ để tổ chức áp dụng trong sản xuất sản phẩm hàng hóa. Giai đoạn 2011 - 2015, đã hỗ trợ từ nguồn vốn phát triển khoa học công nghệ cho 125 HTX với tổng kinh phí 2.350 triệu đồng về nghiên cứu khoa học, đưa các giống cây, giống con có giá trị kinh tế cao vào sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ giống cho 62 HTX chăn nuôi bị thiệt hại do dịch bệnh với tổng số tiền 308,8 triệu đồng. Thực hiện đề án cơ giới hóa nông nghiệp, tỉnh đã ban hành cơ chế hỗ trợ mua máy phục vụ sản xuất nông nghiệp, đã hỗ trợ mua 2.862 máy nông nghiệp và xây dựng 30 kho lạnh với tổng kinh phí hỗ trợ của tỉnh là 215,4 tỷ đồng.

- Chính sách hỗ trợ HTX, LHHTX tiếp thị và mở rộng thị trường

Hằng năm Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở, ngành, huyện, thành phố xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư, quảng bá các sản phẩm dịch vụ, trợ giúp tìm hiểu, nắm bắt, tiếp cận thị trường cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, các HTX trong tỉnh; tư vấn đầu tư, hỗ trợ các thông tin cần thiết trong việc lập hồ sơ đăng ký đầu tư và đăng ký thành lập HTX, Liên hiệp HTX; trợ giúp các doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm liên kết với các HTX nông nghiệp, tổ chức, hỗ trợ tham gia được từ 8-15 hội chợ thương mại trong và ngoài tỉnh. Riêng năm 2018, đã tổ chức thành công 03 hội chợ trên địa bàn tỉnh với 630 gian hàng của các HTX, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, đồng thời, tổ chức cho các HTX, doanh nghiệp trong tỉnh tham gia trên 20 hội chợ triển lãm tại các tỉnh, thành phố trong nước và Hội chợ kinh tế thương mại biên giới Việt - Trung lần thứ 18.

- Chính sách hỗ trợ xây dựng mô hình HTX, LHHTX kiểu mới sản xuất kinh doanh gắn với chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực của địa phương, ứng dụng công nghệ cao sản xuất hữu cơ.

Xây dựng mô hình HTX, LHHTX tổ chức sản xuất tập trung theo quy mô lớn, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản; phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phù hợp với điều kiện thực tế; xây dựng vùng nguyên liệu nông sản tập trung quy mô lớn gắn với cấp mã vùng trồng, mã vạch sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn quản lý chất lượng (VietGap, GlobalGap) và truy xuất nguồn gốc đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp; tận dụng lợi thế về điều kiện địa hình, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, hạ tầng kinh tế - xã hội để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, trong đó chú trọng đến các mô hình du lịch nông thôn, du lịch sinh thái; tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình OCOP; thúc đẩy phát triển các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường khâu bảo quản và chế biến hàng nông sản; hình thành hệ thống trung tâm kết nối, xúc tiến tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm gắn với chuỗi các chợ đầu mối hoặc trung tâm cung ứng hàng nông sản; tạo cơ chế, chính sách ưu đãi hơn để thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và lĩnh vực phi nông nghiệp, tạo nhiều việc làm cho lao động; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nghề và làng nghề; phát triển thương mại, dịch vụ; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất.

Hiện Thái Bình đang tích cực triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao giai đoạn 2020-2025; đẩy mạnh thực hiện 07 mô hình nâng cao giá trị sản xuất lúa gạo, hướng tới xây dựng chỉ dẫn địa lý và cấp mã số vùng trồng. Thực hiện Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 03/02/2021 của Thủ Tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án lựa chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã kiểu mới giai đoạn 2021-2025 tỉnh đã lựa chọn 05 hợp tác xã để làm điểm nhân diện rộng. Tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp phát triển sản xuất nuôi trồng và khai thác thủy sản theo hướng bền vững, công nghệ cao

- Chính sách hỗ trợ thành lập mới, tổ chức lại hoạt động của HTX, LHHTX trong lĩnh vực nông nghiệp

Thực hiện tốt quy định về giải quyết các thủ tục hành chính, như: Cắt giảm thời gian giải quyết TTHC từ 05 ngày làm việc xuống không quá 03 ngày làm việc đối với đăng ký thành lập mới và không quá 03 ngày làm việc đối với đăng ký thay đổi HTX; thực hiện tư vấn về thành lập, đăng ký hoạt động, cung cấp miễn phí các biểu mẫu hồ sơ đăng ký HTX. Tiếp tục chỉ đạo ưu tiên xây dựng, phát triển, nhân rộng mô hình HTX kiểu mới trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; kiên quyết giải thể các HTX, tổ hợp tác hoạt động mang tính hình thức, hoạt động kém hiệu quả.

- Chính sách tạo điều kiện tham gia các chương trình kinh tế - xã hội

Các thủ tục hành chính (TTHC) về giao đất, thuê đất đối với HTX, QTDND đã được rút ngắn thời gian thực hiện, lồng ghép thủ tục giao đất, cho thuê đất đồng thời với cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư; thực hiện thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất gắn với thủ tục quyết định chủ trương đầu tư dự án.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã ban hành cơ chế hỗ trợ xi măng trả chậm xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi nội đồng. Toàn tỉnh đã thực hiện cứng hóa 1.142 km kênh mương cấp 1 loại 3 (đạt 62%); xây dựng, nâng cấp đường giao thông nội đồng 3.539 km (đạt 74%) tạo điều kiện thuận lợi cho đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp, vận chuyển vật tư sản phẩm hàng hóa và chủ động tưới tiêu nước hiệu quả.

Tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ của tổ chức JICA, có 02 HTX được hỗ trợ đầu tư trụ sở, nhà kho, cửa hàng vật tư, 07 HTX được hỗ trợ đầu tư các trang thiết bị phục vụ quản lý và tập huấn nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý HTX NN.

Thực hiện Đề án "Phát triển hợp tác xã hoạt động hiệu quả theo Luật Hợp tác xã năm 2012 gắn với liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị cho các hộ thành viên", giai đoạn 2018 - 2020 tỉnh đã lựa chọn 05 HTX triển khai xây dựng mô hình điểm và phân bổ vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng (trụ sở, nhà kho, cửa hàng cung ứng vật tư, giới thiệu sản phẩm, xưởng sơ chế, chế biến,...) với tổng số tiền hỗ trợ trên 20 tỷ đồng.

Bài học kinh nghiệm

Một là, chú trọng công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng đắn, thống nhất trong các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về KTTT. Nơi nào làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Nghị quyết thì nơi đó KTTT, HTX phát triển, có chuyển biến mạnh mẽ và đúng hướng.

Hai là, vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể là nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của KTTT. Ở đâu cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo; cán bộ theo dõi, quản lý KTTT, HTX nhiệt huyết, có trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức tốt; phát huy được vai trò của các tổ chức quần chúng; đi sâu, đi sát, phát huy tốt dân chủ nội bộ thì ở đó KTTT, HTX phát triển tốt.

Ba là, các quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết cần được vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế từng địa phương.

Bốn là, phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi; chuẩn bị kỹ phương án sản xuất kinh doanh; xem xét đánh giá đúng các nguồn lực hiện có; lựa chọn, bố trí cán bộ HTX phù hợp; công khai, minh bạch phương án phân phối lợi nhuận, chi tiêu các quỹ để thành viên tin tưởng, yên tâm góp sức, góp vốn làm ăn lâu dài.

Năm là, chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, tổ chức tốt công tác tổng kết, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, từ đó rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành; khuyến khích các mô hình điển hình tiên tiến trong phát triển KTTT.

Sáu là, đẩy mạnh liên doanh, liên kết giữa các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau với các hình thức đa dạng để thu hút các yếu tố đầu vào, đặc biệt là vốn, vật tư, ứng dụng khoa học công nghệ, phương pháp quản lý; đồng thời, tổ chức đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh ổn định, tạo ra sự phát triển bền vững cho các tổ chức KTTT.

Bảy là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, yếu kém trong hoạt động; tăng cường công tác quản trị, điều hành của các tổ chức KTTT.

Tám là, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần có cán bộ chuyên trách về KTTT; đồng thời, các sở, ban, ngành và các huyện, thành phố cần phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của KTTT.

Trần Văn Toản
Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Thái Bình


Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Phó Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam

Giấy phép số: 239/GP-TTDT ngày 11 tháng 12 năm 2020 của Cục Phát thanh truyền hình và TTĐT thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông.

Ghi rõ nguồn: "vca.org.vn" khi phát hành thông tin từ trang này.

Copyright 2013 vca.org.vn - Technology Supported by ECPVietnam