Phụ nữ Tày vươn lên làm chủ cuộc sống nhờ du lịch
Khai thác tiềm năng để phát triển
Bản Liền, một điểm du lịch nằm cách thị trấn Bắc Hà 30km. Khi tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một vùng đất xinh đẹp với những nếp nhà sàn nằm ở lưng đồi, giữa những đồi chè, tán cọ và những chủ nhà luôn tươi cười, thân thiện, mến khách cùng các món ăn rất núi rừng mang đậm nét địa phương.

Nhìn vào sự sôi động của những homestay hiện nay, không mấy ai biết rằng vào năm 2019, khi dự án “Tăng cường kinh tế và vị thế phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua phát triển du lịch cộng đồng tại Bắc Hà” hay còn gọi là Dự án Du lịch Cộng đồng do Trung tâm Phát triển Kinh tế Nông thôn (CRED) thực hiện, với sự tài trợ của dự án GREAT về nâng cao bình đẳng giới trong nông nghiệp và du lịch của Chính phủ Úc, tiếp cận nơi đây, rất ít người hiểu du lịch cộng đồng là gì. Dân bản sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp như trồng lúa, chè, quế và chăn nuôi. Họ đã thực sự bắt đầu từ con số không, từ việc cải tạo nhà cửa, di dời chuồng trại ra xa nhà, xây nhà tắm, nhà vệ sinh và học cách làm du lịch.
“Chuyên gia du lịch được cử đến để tư vấn cho các hộ làm homestay. Chúng tôi được vay vốn với lãi suất ưu đãi hơn hẳn so với ngân hàng để sửa sang nhà cửa khang trang, tiện nghi hơn. Chuồng trại gia súc được di chuyển ra xa hẳn nơi người ở, không còn cảnh dày đặc những con dĩn vo ve”, chị Vàng Thị Thông chia sẻ .
Một điều không may mắn cho những người làm du lịch Bản Liền là khi nhà cửa vừa cải tạo xong thì dịch Covid-19 ập đến, cơ hội đón khách để bắt đầu kinh doanh không có. Tuy nhiên, việc này không làm họ nản chí. Các hộ làm homestay cùng với 8 thành viên đội văn nghệ bắt đầu hành trình làm du lịch của họ từ những lớp học về kỹ năng đón tiếp khách, tiếng Anh cơ bản, múa hát, nấu ăn, quảng bá về du lịch trên internet. Họ được tham quan học tập từ các homestay tại các xã khác trong cùng dự án như Bản Phố, Tà Chải, Lùng Phình và Na Hối.
Đến nay, khi trở lại đón khách, homestay của gia đình chị Vàng Thị Thông có thể đón khoảng 130 khách ăn trưa và khoảng 90 khách nghỉ qua đêm. Ngoài ra, gia đình chị còn đầu tư nuôi ngựa bạch, trồng chè, trồng quế và các công việc khác để phát triển kinh tế.
Từ những khách du lịch do dự án giới thiệu tới Bản Liền, những người làm du lịch dân tộc Tày tại đây hiểu rằng điều để thu hút, níu giữ du khách khi tới đây chính là bản sắc văn hóa của dân tộc họ. Vẻ đẹp của Bản Liền, sự nhiệt tình nồng hậu tham gia đón khách của cả gia đình trong trang phục truyền thống người Tày, những món ăn đậm đà hương vị thiên nhiên đã níu chân du khách đến và quay lại.
Thay đổi cách nghĩ, cách làm
Có thể nói, dự án đã giúp người dân làm du lịch cộng đồng Bản Liền hiểu rằng, chính những hoạt động sản xuất, sinh hoạt đời thường gần gũi, mang đậm bản sắc của người Tày nơi đây mới là những thứ mà du khách mong muốn được trải nghiệm. Giờ đây, đến với Bản Liền, du khách sẽ được tìm hiểu, khám phá văn hóa, phong tục tập quán của người dân bản địa, được tham gia trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi đây thông qua các hoạt động như lên rừng hái chè, bắt cá dưới suối. Mùa nào thức nấy, du khách không chỉ được thưởng thức các món ăn đặc trưng mà còn được trực tiếp hướng dẫn làm cơm lam, bánh chưng, đan cọ hay chơi đánh cầu và múa hát cùng người dân…
Gặp lại chị Vàng Thị Thông trong một hội nghị với chủ đề “Kết nối phụ nữ với thị trường” tại Hà Nội, chị hào hứng khoe, ngoài Facebook, Zalo, tôi biết sử dụng cả Tiktok để giới thiệu về du lịch Bản Liền. Tôi cũng làm quen với các trang đặt phòng online để trao đổi với khách hàng. Những lúc rảnh, tôi thường xuyên vào mạng để nhắn tin, hỏi thăm và trò chuyện với những khách đã đến và nghỉ tại gia đình.
Từ chỗ còn ngại giao tiếp, giờ đây chị cũng như người dân Bản Liền đã tự tin hơn, họ tự trau dồi vốn ngoại ngữ để sẵn sàng đón tiếp không chỉ khách du lịch trong nước mà cả khách ngoại quốc.
Có thể nói du lịch cộng đồng đã thổi một làn gió mới đến với gia đình chị Thông và người dân trong Bản Liền, đặc biệt là những người phụ nữ. Họ, những người vốn chỉ quen với lên rừng, làm rẫy, bây giờ đã tự tin giới thiệu về bản làng của mình, được hoàn thiện và phát triển bản thân, ngày càng được nâng cao vị thế và trở thành những người truyền cảm hứng đặc biệt đến cộng đồng.
Được biết, ngoài du lịch, các tổ nhóm nghề truyền thống lần lượt ra đời. Có những nghề tưởng như sẽ mai một vì chỉ người già trên 70 tuổi mới biết làm như nghề làm nón lá cọ thì nay đã thu hút những người trẻ tìm đến học hỏi tạo nên những sản phẩm mới độc đáo đối với du khách. Phụ nữ địa phương, không chỉ những người kinh doanh homestay mà còn cả những người làm nghề truyền thống, đã tự tin hơn khi đón khách. Họ sẵn sàng hướng dẫn du khách xuống đồng gặt lúa, khâu nón, hay chế biến chè.
Tin liên quan
- NN Tây Nguyên: Chuẩn bị 1.500ha hoa phục vụ Tết
- Xử lý dứt điểm hợp tác xã nông nghiệp yếu kém đã ngừng hoạt động lâu ngày
- Vĩnh Phúc: Ứng dụng công nghệ thông minh trong sản xuất nông nghiệp
- Hơn 2,1 triệu hộ dân được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi
- Năm 2019 sẽ có trên 11.000 HTX nông nghiệp hoạt động hiệu quả
- Đào tạo kỹ sư nông nghiệp thời 4.0: Khó khăn và thách thức
- Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển KTXH 2019
- Ba thách thức của ngành nông nghiệp
- Nhân tố tích cực xây dựng nông thôn mới
- Học người Nhật làm nông nghiệp bền vững
